Thursday, March 26, 2015
Thursday, May 3, 2012
Làm an toàn thông tin thì học gì?
Thursday, December 15, 2011
Change Your Thoughts And You Change Your World !
Wednesday, April 13, 2011
Bài phát biểu của bác Hoàng Tụy
Vì một nền giáo dục trung thực, lành mạnh và hiện đại
(Diễn từ tại buổi lễ trao giải thưởng Văn hoá Phan Châu Trinh, 2011)
Thật là vinh dự lớn cho một người làm khoa học bình thường như tôi được nhận giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh cao quý. Vinh dự lớn trước hết vì giải thưởng gắn liền với tên tuổi một nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc, một sĩ phu thuộc lớp cựu học nhưng đã thoát ra khỏi những quan niệm giáo dục phong kiến cổ hủ đương thời, khởi xướng đường lối canh tân văn hoá, giáo dục để cứu nước: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Vinh dự lớn còn là không phải giải thưởng hay huân chương trong hệ thống hành chính Nhà Nước mà là giải thưởng được trao cho bởi một tổ chức xã hội dân sự, với ý nghĩa cao quý thúc đẩy sự nghiệp văn hoá giáo dục của nước nhà theo tinh thần khai sáng của nhà ái quốc vĩ đại.
Làm khoa học ở một đất nước nghèo khó tôi vốn có duyên nợ nhiều với giáo dục. Xuất thân là một thầy giáo trung học rồi dần dần tự mày mò học tập, nâng cao trình độ mà trưởng thành trong nghề và trở thành một nhà khoa học. Bắt đầu dạy học ở tuôi 20, đến nay đã ngoài 80, suốt hơn 60 năm đó tôi chưa lúc nào xa rời nghề dạy học, tuy học trò của tôi thì tuổi tác, tính chất, trình độ và cả quốc tich cũng ngày càng đa dạng. Được may mắn (chứ không phải rủi ro) học phổ thông ở nhà trường thời thực dân (nhưng không phải nhà trường thực dân), ra đời cũng được đi đây đi đó học, dạy, làm việc trong những môi trường đại học khoáng đạt hiện đại từ Tây sang Đông trên thế giới nên tôi thường có dịp suy ngẫm về nghề nghiệp của mình. Suy ngẫm từ vị trí công dân một nước nghèo, lạc hậu, khát khao mau chóng đuổi kịp một nhân loại đang rộn rịp chuyển lên nền văn minh trí tuệ đầy thách thức. Điều đó tự nhiên dẫn đến mối quan tâm trăn trở gần như thường trực đối với nền giáo dục của nước nhà. Mà cũng từ đó được mở rộng tầm mắt, có cách nhìn hệ thống đối với nhiều vấn đề giáo dục, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước. Hồi còn anh Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng Đại Học tôi đã có nhiều dịp nghiên cứu và trình bày về tư duy hệ thống trong các xêmina giáo dục do anh ấy chủ trì. Những tư tưởng, quan niệm của tôi về giáo dục, văn hoá, kinh tế xã hội ngay từ những ngày ấy phần lớn đều xuất phát từ cách nhìn hệ thống đó cho nên ít nhiều cũng có tính hệ thống nhất quán, nếu có lúc cần thay đổi thì cũng do logic sự vật chứ không tuỳ hứng, tuỳ tiện, tuỳ thời.
Một thế kỷ nay chưa bao giờ vai trò then chốt của giáo dục trong sự phát triển của dân tộc ta nổi rõ như lúc này. Chỉ trong vòng một thế hệ mà những bước tiến khổng lồ của khoa học và công nghệ đã mang đến cho cuộc sống trên hành tinh những đổi thay sâu sắc hơn cả hàng trăm năm. Trong bối cảnh ấy giáo dục càng quan trọng thiết yếu hơn bao giờ hết cho bất cứ xã hội nào, kể cả những xã hội tân tiến nhất.
Việt Nam không là một ngoại lệ. Nên dù trước mắt kinh tế có khó khăn bức bách bao nhiêu cũng không cho phép chúng ta một phút được lơ là các vấn đề giáo dục. Chừng nào giáo dục còn yếu kém tụt hậu như hiện nay thì dẫu có tăng trưởng kinh tế giữ được tốc độ 7-8%, thậm chí 10% năm chăng nữa đất nước cũng vẫn mãi mãi lẹt đẹt sau thiên hạ. Muốn tăng trưởng kinh tế bền vững, muốn chuyển hướng phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu mà để giáo dục yếu kém thì chỉ là nói suông. Ông Lý Quang Diệu từng khuyên chúng ta: thắng trong giáo dục thì mới thắng trong kinh tế. Gần đây ông đại sứ Hoa Kỳ sau nhiệm kỳ công tác ở Việt Nam cũng nhận xét thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay là giáo dục. Không phải họ hù doạ chúng ta, cũng chẳng phải họ cung cấp cho chúng ta thông tin gì mới mẻ tân kỳ. Họ chỉ nói cho ta biết một điều mà từ nhiều năm rồi ngay chuyên gia trong nước đã có không it lời cảnh báo tương tự. Chẳng qua Bụt nhà không thiêng thì mới cầu tới Bụt ngoài.
Cho nên dù nhiều người đã nói nhiều lần rồi tôi cũng xin nhắc lại lần nữa: chỗ nghẽn lớn nhất trong phát triển hiện nay của xã hội ta là giáo dục. Giáo dục và giáo dục, không có gì quan trọng hơn. Và vì vậy cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện và triệt để là mệnh lệnh cuộc sống. Càng chần chừ, càng trì hoãn càng trả giá đắt, và không loại trừ đến một lúc nào đó sẽ là quá trễ như đã từng xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới.
Đó là nội dung thiết yếu hai bản kiến nghị mà một nhóm trí thức quan tâm tới vận mệnh đất nước đã gửi Trung Ương Đảng, Quốc Hội và Chính Phủ năm 2004 và năm 2009 (bản Kiến nghị 2004 đã được phổ biến rộng rãi, còn bản Kiến nghị 2009 chưa được nhiều người biết do bị hạn chế phổ biến).
Như chúng ta còn nhớ, cách đây 15 năm từng có nghị quyết lịch sử của Hội Nghị TƯ II, khoá 8, xem phát triển giáo dục, khoa học là quốc sách hàng đầu. Nhưng mười năm sau đó, Thủ Tướng Chính Phủ đã phải thẳng thắn thừa nhận chúng ta chưa thành công trong hai lĩnh vực nêu trên. Cho nên các nghị quyết Đại Hội X và ba Hội Nghị TƯ sau đó đều nhắc lại nhiệm vụ khẩn thiết cải cách giáo dục để ra khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài mấy thập kỷ. Đặc biệt sau những lời hứa hoa mỹ của ông tân Bộ Trưởng GD và ĐT năm 2006, nhiều người trong đó có tôi đã đặt niềm tin ngây thơ vào triển vọng công cuộc chấn hưng giáo dục có thể bắt đầu chuyển động. Tiếc thay, hy vọng chưa kịp nhen nhóm thì thất vọng đã mau chóng đến, lần này lo lắng nhiều hơn vì chưa bao giờ giáo dục chạy theo thành tích dễ dãi được quảng cáo ầm ĩ thiếu trung thực lại ngốn nhiều công sức, tiền của mà hiệu quả thấp như 5 năm qua.
May thay, sự kiện Ngô Bảo Châu đã tạo một cú hích, it nhất về nhận thức. Sau một thời gian ngắn được ngộ nhận là thành tich đặc biệt của giáo dục, sự kiện này cuối cùng đã cho thấy rõ quá nhiều vấn đề cần suy nghĩ lại nghiêm túc và tỉnh táo hơn về nhà trường của chúng ta. Đáng mừng là lần đầu tiên sau nhiều năm chờ đợi, người dân đã được nghe Thủ Tướng long trọng tuyên bố cần một cuộc cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện, triệt để, để chấn hưng đất nước. Với niềm hân hoan như đã lâu chưa hề có, tôi đã lắng nghe bài diễn văn buổi tối đó của Thủ Tướng, y như người đang khát giữa trưa hè nóng bức mà được uống bát nước chè tươi.
Sau tuyên bố của Thủ Tướng, nguyên Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình cũng đã lên tiếng đầy sức thuyết phục kêu gọi thực hiện cải cách giáo dục để tiến lên một nền giáo dục trung thực, lành mạnh và hiện đại, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người dân và yêu cầu cấp thiết chấn hưng đất nước. Nhiều bậc thức giả khác đã hưởng ứng lời kêu gọi đó. Ai nấy đều tin rằng đã đến lúc cần kết thúc giai đoạn đổi mới vụn vặt, chuyển sang cải cách mạnh mẽ thì giáo dục mới có thể ra khỏi bế tắc, trì trệ. Trong một buổi làm việc hơn hai giờ vào khoảng giữa tháng 11, tôi cũng đã cố gắng thuyết phục Bộ Trưởng GD và ĐT Phạm Vũ Luận hãy nhân cơ hội này nhận nhiệm vụ lịch sử khởi động công cuộc cải cách giáo dục đã được đề ra trong các nghị quyết lớn của TƯ. Trước hết hãy có một cách tiếp cận mới đối với một số vấn đề nhức nhối nhất hiện nay như thi cử, tổ chức trung học phổ thông và dạy nghề, tuyển chọn GS, PGS, xây dựng đại học đăng cấp quốc tế, v.v.
Tuy nhiên cho đến giờ phút này, nghĩa là gần nửa năm trời sau tuyên bố mạnh mẽ của Thủ Tướng tình hình vẫn im ắng. Một chủ trương đúng đắn có ý nghĩa then chốt chiến lược đến như vậy, lại đã long trọng hứa hẹn với dân nhiều lần, mà đấu tranh thực hiện cũng gian khổ chẳng khác gì việc đòi giảm sưu cao thuế nặng thời thực dân phong kiến hay sao ? Tôi thật sự lo lắng khi thấy bất chấp mọi lời khuyên, cỗ máy giáo dục già nua cổ lỗ vẫn tiếp tục vận hành ì ạch mà chưa thấy tín hiệu gì sẽ có thay đổi. Đến hẹn lại lên, cả nước lại chuẩn bị lao vào địa ngục thi cử với biết bao tốn kém, lo âu, để rồi như mọi năm hàng chục vạn học sinh sau 12 năm đèn sách bị ném bơ vơ ra đời, không nghề nghiệp mà cũng chẳng có nơi nào học tiếp, cùng với hàng vạn sinh viên sau 3,4 năm đại học vẫn bỡ ngỡ ngay cả với những việc làm rất thông thường mà ở các nước khác chỉ đòi hỏi một học vấn trung cấp.
Tại sao thanh thiếu niên ta phải chịu thiệt thòi lớn như vây ? Tại sao đã 36 năm ròng rã từ ngày thống nhất đất nước mà giáo dục đến nông nỗi này ?
Hiển nhiên có nhiều nguyên nhân nhưng điều dễ thấy nhất là một đất nước mà người dân tin rằng “cái gì tiền không làm được thì nhiều tiền sẽ làm được” — một đất nước như thế thì giáo dục tụt hậu là tất yếu. Suy cho cùng sự nghiệp chấn hưng giáo dục tuỳ thuộc quyết định vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Chừng nào tham nhũng còn nặng thì dối trá, lừa đảo còn phổ biến khắp hang cùng ngõ hẻm, làm sao giáo dục có thể trung thực, lành mạnh được, nói chi đến hiện đại. Chống tiêu cực trong thi cử, chống bệnh thành tích ư ? thì đó, năm đầu làm nghiêm thì hàng loạt thí sinh trượt, năm sau bắt đầu dễ dãi thì tỉ lệ thi đỗ tăng, năm sau nới rộng nữa thì đạt tỉ lệ thi đỗ cao ngất ngưỡng như ban đầu, thế là chứng minh chất lượng giáo dục đã đựơc nâng cao, giáo dục đã đạt siêu thành tích. Còn mua bằng, bán điểm, chạy trường, chạy dự án, chạy chức, thứ gì cũng chạy được, chạy bằng chân, bằng đầu, bằng vốn tự có, hay gì gì đó thì đố ai biết qui mô đến đâu. Có điều chắc chắn là những chuyện tiêu cực trong giáo dục và kèm theo đó, bạo lực học đường chưa hề giảm mà có phần phát triển bạo liệt tinh vi hơn, có nguy cở trở thành một nét văn hoá tiêu biểu của xã hội ta hiện nay.
Giáo dục là một hệ thống phức tạp, theo nghĩa khoa học của từ này, cần phải được tiếp cận và vận hành như một hệ thống phức tạp mới có hy vọng tránh khỏi sai lầm, thất bại. Lãnh đạo, quản lý giáo dục mà thiếu tư duy hệ thống, thiếu môt tầm nhìn chiến lược bao quát thì chỉ có sa vào sự vụ, nay thế này mai thế khác, “đổi mới” liên miên nhưng vụn vặt, chắp vá, không nhất quán, rốt cục tiêu tốn nhiều công sức tiền của mà kết quả chỉ làm rối thêm một hệ thống vốn đã què quặt, thiếu sinh khí, thường xuyên trục trặc. Trong một thế giới biến chuyển cực kỳ mau lẹ, chỉ chậm một vài năm đã có thể gây thiệt hại đáng kể, huống chi mấy thập kỷ liền hầu như giẫm chân tại chỗ và loay hoay với những vấn nạn nhức nhối kéo dài hết năm nầy qua năm khác.
Không đâu cần bốn chữ cần kiệm liêm chính hơn lĩnh vực giáo dục. Cũng không đâu cần tư duy phê phán, cần tự do, sáng tạo hơn ở đây. Một nền học đã thiếu vắng các đạo đức và đức tính cơ bản ấy tất nhiên sớm muộn cũng biến chất và lâm vào bế tắc. Khi ấy những điều chỉnh cục bộ theo kiểu đổi mới từng việc vụn vặt như vừa qua không những không có tác dụng mà còn làm kéo dài thêm tình trạng trì trệ. Lúc này lối ra duy nhất cho giáo dục là cải tạo cấu trúc, xây dựng lại từ gốc, thay đổi cả thiết kế hệ thống. Chỉ có như thế mới mong cứu giáo dục thoát ra khỏi khủng hoảng triền miên.
Không đi sâu vào những việc quản lý cụ thể tôi chỉ xin nêu một số vấn đề ở tầm chiến lược về chất lượng giáo dục. Dù bảo thủ đến đâu, dù thoát ly thực tế cuộc sống đến đâu, ai cũng phải công nhận chất lượng giáo dục của ta quá thấp. Thấp như thế nào và làm gì để nâng cao chất lượng thì lại có nhiều cách nhìn thiển cận, phiến diện, sa vào chi tiết vụn vặt không thực chất.
Thứ nhất là chuyện học và thi. Năm nào bàn chuyện này cũng có nhiều đề xuất cải tiến nhưng càng bàn càng rối mà chưa thấy hướng ra đúng đắn. Học thì cứ miêt mài nhồi nhét nhiều thứ vô bổ, nhưng lại bỏ qua nhiều điều cần thiết trong đời sống hiện đại. Thi thì mãi vẫn một kiểu thi cổ lỗ, biến thành khổ dịch cho học sinh nhưng là cơ hội kinh doanh, làm tiền cho một số người. Không phải học mà thi mới là chính, học chỉ để đi thi, để có bằng, thậm chí không học mà có bằng thì càng tốt. Đặc biệt thi tốt nghiệp nặng nề như chưa hề thấy đâu trên thế giới văn minh. Tuy đã có không ít hội nghị bàn thảo về cải tiến phương pháp giảng dạy, cho đến nay chủ yếu vẫn chỉ là dạy trên lớp, thầy đọc, trò ghi và bám sát sách giáo khoa. Trong khi đó, với cách nhìn toàn cục có thể thấy rõ cốt lõi của chuyện học và thi ở chỗ khác. Đã sang thế kỷ 21 nhưng giáo dục của ta vẫn giữ nhiều quan niệm cổ hủ như thời phong kiến nho giáo hay thời trung cổ ở Châu Âu, nặng tính giáo điều kinh kệ, vì nhằm mục tiêu thiển cận biến con người thành một phương tiện sử dụng vào các mục đích tôn giáo hay chính trị, hơn là hoàn thiện con người như một chủ thể tự do. Phương Tây đã có thể nhanh chóng bước lên giai đoạn phát triển văn minh công nghiệp hiện đại trong khi Phương Đông còn ngủ dài trong văn minh nông nghiệp chính là nhờ họ đã sớm thế tục hoá giáo dục. Thiết nghĩ một giải pháp tương tự cũng cần nghiên cứu cho nhà trường Việt Nam để bước vào kinh tế tri thức thời nay.
Thứ hai là chuyện đào tạo theo nhu cầu xã hội. Các doanh nghiệp thường phàn nàn gặp nhiều khó khăn khi tuyển nhân lực cần thiết vì trình độ, năng lực thực tế của sinh viên do các trường đào tạo ra quá thấp so với yêu cầu của họ. Trong khi đó, hàng năm có hàng chục vạn học sinh, sinh viên ra trường không tìm được việc làm thích hợp. Mặc cho khẩu hiệu “nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội”, và một số biện pháp đổi mới quản lý giáo dục, chất lượng đào tạo vẫn giẫm chân tại chỗ từ hàng chục năm nay. Quá nhiều trường đào tạo về kinh tế, tài chính, kế toán, ngân hàng, v.v. nhưng rất ít trường về công nghệ, kỹ thuật, khoa học. Quá nhiều đại học, cao đẳng kém chất lượng, nhưng rất it trung cấp kỹ thuật. Cơ cấu đào tạo khiến trong nước rất thiếu công nhân lành nghề, rất thiếu cán bộ kỹ thuật trung cấp giỏi, nhưng thừa kỹ sư, cán bộ quản lý tồi. Không lạ gì có nhà đầu tư nước ngoài từng nhận xét: chúng ta nói nhiều về công nghiệp hoá nhưng ngay một chiếc đinh vít cũng chưa có nơi nào trong cả nước làm được đúng chuẩn quốc tế. Công nghiệp phụ trợ không phát triển nổi, muốn làm ra sản phẩm công nghệ gì tinh vi đôi chút cũng phải nhập phần lớn linh kiện, bộ phận và các sản phẩm trung gian. Rôt cục chỉ lắp ráp là chính thì bao giờ mới xây dựng được công nghiệp hiện đại. Sự thể nghiêm trọng đến mức chuyên gia Nhật đã khuyến cáo: vận mệnh ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam không chỉ ảnh hưởng đến tương lai phát triển kinh tế của Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến địa vị chính trị của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á. Mà với cơ cấu đào tạo nhân lực như hệ thống giáo dục hiện nay thì không cách nào phát triển công nghiệp phụ trợ. Cho nên có nhìn rộng ra cả nền kinh tế mới thấy vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội không chỉ là cải tiến khâu đào tạo ở cấp đại học hay cao đẳng mà phải cải tổ cơ cấu hệ thống giáo dục, theo hướng như đã trình bày trong bản Kiến nghị 2009: sau trung học cơ sở phần lớn học sinh sẽ vào trung học nghề, trung học kỹ thuật, chỉ một tỉ lệ nhỏ vào trung học phổ thông. Bản thân trung học phổ thông cũng cần được cải tổ theo hướng không phân ban cứng nhắc mà có nhiều lựa chọn cho học sinh phát triển năng khiếu sở thích, nhờ đó nâng cao chất lương đầu vào đại học, tạo điều kiện nang cao chất lượng đại học . Như vậy, sau 12 năm học, học sinh nếu ra đời thì đã có nghề, còn số có thể tiếp tục học sẽ không bị nhiều rào cản do cánh cửa chật hẹp của đại học hiện nay.
Thứ ba là xây dựng đại học. Vị trí và tính chất của giáo dục đại học trong sự phát triển của các quốc gia ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với chỉ cách đây vài thập kỷ. Nói giáo dục là thách thức lớn nhất cho đất nước hiện nay thì trước hết đó là giáo dục đại học. Trong một thế giới toàn cầu hóa, xây dựng đại học tất nhiên phải hướng tới và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế trong mọi lĩnh vực. Trong khi đó, từ việc đào tạo tiến sĩ, việc tuyển chọn giáo sư, đánh giá các công trình khoa học, các nhà khoa học, các trường đại học, đến nay chúng ta vẫn giữ nhiều tiêu chuẩn riêng chẳng giống ai. Mặc dù đã trải qua mấy chục năm trời xây dựng, đại học của ta vẫn còn ngổn ngang rất nhiều vấn đề đòi hỏi không chỉ phải đổi mới mà phải thay đổi tận gốc, từ chiến lược phát triển cho đến cách thực hiện chiến lược. Trong đó việc xây dựng các đại học tiến lên đẳng cấp quốc tế đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng, trước hết là về quan niệm. Nếu không kịp thời khắc phục thì căn bệnh thành tich phô trương cộng với tính vô trách nhiệm ở đây sẽ gây lãng phí lớn, làm chậm lại thay vì thúc đẩy quá trình tiến lên hiện đại theo tinh thần khai sáng.
Thứ tư và cuối cùng nhưng then chốt nhất là chính sách đối với đội ngũ giáo chức. Không có khâu quản lý nào thể hiện rõ hơn quyết tâm chấn hưng giáo dục bằng chính sách đối với thầy giáo. Thế nhưng hiếm có nơi nào trên thế giới và cũng hiếm có thời nào trên đất nước ta người thầy mặc dù bị đối xử bất công vẫn tận tuỵ gắn bó với nghề như trong mấy chục năm nay. Khi nói điều này không phải tôi không biết những gương xấu trong ngành, những con sâu làm rầu nồi canh. Nhưng tôi nghĩ số đó vẫn là số ít, số ít đáng ngạc nhiên nếu đặt trong hoàn cảnh xã hội và điều kiện làm việc cực kỳ khó khăn của tất cả thầy giáo của ta. Tôi tin rằng với những hoàn cảnh như thế ở các nước khác tình hình giáo dục phải bi đát hơn nhiều. Với chính sách đối với thầy giáo như của ta mà giáo dục còn được như thế này đó thật sự là kỳ công.
Song cái gì cũng có giới hạn, kể cả lòng tự trọng, thiện chí và … lương tâm. Cứ thế này e sẽ đến lúc lương tâm cũng chai lì, chẳng còn ai biết xấu hổ, để cho cái lá nho cuối cùng cũng không giữ nổi thì sẽ mất hết, chẳng còn gì để bàn về giáo dục, văn hoá, khoa học nữa. Tôi cũng hiểu và thông cảm với những khó khăn thực tế liên quan đến tham nhũng. Song có thể nói không quá đáng, kinh nghiệm hơn ba mươi năm qua đã cho thấy hầu hết mọi căn bệnh tàn phá giáo dục đều có nguồn gốc ít nhiều ở cái chính sách bỏ mặc rồi khuyến khich thầy giáo tự bươn chải để kiếm sống mà làm nghề, trong một môi trường đòi hỏi họ phải toàn tâm toàn ý mới làm tôt được nhiệm vụ. Vậy nên giải quyết cái u nầy là điều kiện tiên quyết mở đường cho giáo dục (và khoa học) thật sự trở thành quôc sách hàng đầu. Tuy nhiên cũng phải cắt u một cách an toàn vì nếu làm không minh bạch đường hoàng như hiện nay thì chỉ gây thêm hỗn loạn, cũng rất nguy hiểm.
Để kết thúc, xin bày tỏ niềm tin cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện, triệt để là giải pháp cứu nguy cho giáo dục, cũng là cứu nguy cho phẩm chất Việt Nam khi còn chưa quá trễ.
Và một lần nữa xin trân trọng cám ơn Quỹ Văn Hoá Phan Châu Trinh.
Hoàng Tụy
http://www.procul.org/blog/2011/03/20/bai-phat-bi%E1%BB%83u-c%E1%BB%A7a-bac-hoang-t%E1%BB%A5y/
Thursday, March 17, 2011
Tinh thần Nhật giữa phong ba
Chủ quán mì phát không cho người qua đường
Trong khi chính phủ Nhật Bản vẫn chưa thể chuyển hàng cứu trợ thật đầy đủ đến những nạn nhân của trận động đất, nhiều người Nhật Bản đã tự đứng ra để giúp đỡ những đồng hương gặp khó khăn.
Chẳng hạn như tại quán mì ở thành phố Miyako thuộc tỉnh Iwate, nơi người ta đang phát không món mì nóng cho những người không nhà cửa để chống chọi với cái đói và thời tiết lạnh giá bên ngoài.
Chủ quán mì, anh Hideshi, cho biết hiện anh đang phải ở khu sơ tán sau khi ngôi nhà trong thành phố đã bị trận sóng thần phá sập.
“Tôi chỉ muốn giúp những người xung quanh cảm thấy hạnh phúc hơn một chút”, Hideshi giải thích về hành động của mình.
Các “khách hàng” của quán mì đều tỏ ra hạnh phúc và biết ơn Hideshi. Nhiều người trong số này là những thiếu niên đã trở thành không nhà sau thảm họa.
Tại khách sạn Monterey ở thành phố Sendai, hai đầu bếp của khách sạn bận rộn phân phát món súp nóng cho những người qua đường - nhiều người trong số này chưa hề có gì vào bụng suốt nhiều ngày qua. Tuy nhiên tất cả đều xếp hàng ngay ngắn và trật tự. Không có ai quay lại để lãnh phần súp thứ hai - mọi người đều ý thức rằng điều đó là “không công bằng”.
Người lính cứu hỏa mất 7 người thân
| Người dân chia nhau đi kiếm củii - Ảnh: Daily Mail |
Tại một khu vực ở Kamaishi, có một người lảo đảo bước ra khỏi đống đổ nát. Những người xung quanh đã phải đỡ lấy người đàn ông tóc hoa râm, dường như đã không còn sức mạnh để đứng vững. Đó là Kenichi Suzuki, một lính cứu hỏa tình nguyện, người đã xông pha liên tục suốt những ngày kể từ sau khi thảm họa xảy ra - để rồi khi quay về nhà, ông bàng hoàng nhận ra cả gia đình mình đã thiệt mạng.
Suzuki cho biết ông đã không có tin tức từ gia đình ngay sau khi thảm họa xảy ra. Công việc sửa chữa đê sóng thần đã không cho phép ông có thời gian quay về tìm tin tức người thân.
“Tôi không còn nghĩ được gì nữa”, ông Suzuki nói trong nước mắt - Vợ tôi, vợ chồng con trai tôi và 4 đứa cháu - tất cả đều đã ra đi”.
Cũng tại Kamaishi, đài truyền hình NHK chiếu cảnh hai vợ chồng Machiko và Seiichirou lang thang giữa đống đổ nát để tìm kiếm cậu con trai bị thất lạc.
“Đó có phải là bưu điện không?” - ông Seiichirou hỏi một nhân viên cứu hộ, chỉ tay về phía một đống đổ nát ở phía xa. Người đàn ông gật đầu.
“Shiro?”, ông Seiichirou lên tiếng gọi con trai mình. Nhưng tất cả đã quá muộn, tòa nhà từng là bưu điện nay chỉ là một đống đổ nát khổng lồ…
Giữa thảm cảnh, người Nhật vẫn đứng vững
Tại nhiều vùng động đất, báo Daily Mail kể về từng nhóm người lang thang giữa trời tuyết để kiếm củi sưởi và những hộp thức ăn có thể còn sót lại đâu đó giữa những đống đổ nát. Họ reo lên mỗi khi tìm thấy một lon đồ hộp hoặc một gói mì còn nguyên vẹn - tất cả sẽ được mang về chia cho mọi người. Thức ăn mang về các khu sơ tán được các phụ nữ nấu chung với gạo cứu trợ.
“Thật buồn khi nhận ra rằng, những thanh củi này từng là ngôi nhà của chúng tôi - một người dân sống ở Rizukentakata nói - Nhưng chúng tôi không có nhiên liệu để sưởi”.
“Những thanh củi này hơi ướt, nhưng gom lại thành đống cũng đủ giúp chúng tôi sưởi ấm phần nào”, anh nói.
| Một người đứng giữa đống đổ nát tại Minamisanriku, tỉnh Miyagi - Ảnh: Daily Mail |
Thế nhưng không vì thế mà người Nhật Bản mất đi tinh thần kỷ luật.
Tại trường tiểu học Shichigo ở thành phố Sendai, nơi cư trú tạm thời của hàng trăm nạn nhân, người ta thấy những gia đình tự sắp xếp để sống chung với nhau. Mỗi gia đình sống trong một ô vuông ngay ngắn, kích thước bằng nhau được ngăn lại bằng những tấm cạc tông và mền vải - không có cảnh giành giật từng khoảng trống. Giày dép phải để ở ngoài để tránh giữ vệ sinh chung. Nhiều người chấp nhận ăn ít hơn bình thường để chia sẻ thức ăn cho mọi người - tất cả cùng nhau tồn tại.
Không có cảnh la hét ồn ào - ngoại trừ tiếng trẻ em cười đùa, mọi người đều nói với nhau một cách nhẹ nhàng và bình tĩnh.
Như CNN nhận xét “Những con người này, trở thành vô gia cư chỉ sau buổi chiều, đang thể hiện một tinh thần văn minh và cộng đồng khiến thế giới phải sửng sốt”.
Monday, December 13, 2010
Đạo đức là nền
Bất cứ ai đã từng dạo chơi vào môn xã hội học đều biết luận thuyết trứ danh của Max Weber: chủ nghĩa tư bản đã phát triển được ở châu Âu là nhờ ảnh hưởng tác động của đạo đức Tin Lành. Khám phá này, tuy chẳng phải là định lý có thể giải thích tất cả như một định lý khoa học, nhưng đã rọi ánh sáng vào một yếu tố then chốt của quá trình phát triển kinh tế: yếu tố đó là văn hóa. Giữa phát triển kinh tế và môi trường văn hóa, tương quan rất khăng khít.
Theo gót Weber, nhiều tác giả đã thử rọi thứ ánh sáng đó vào các trường hợp phát triển kinh tế khác. Nhật Bản là trường hợp điển hình. Là quốc gia đầu tiên phát triển thành công lên kinh tế tư bản trong một bối cảnh văn hóa khác Tây phương, kinh nghiệm Nhật Bản vừa có thể chứng minh luận thuyết của Weber vừa nới rộng luận thuyết đó bằng cách thay thế đạo đức Tin Lành bởi đạo đức Khổng giáo. Michio Morishima là tác giả danh tiếng đã thử làm công việc đó trong những năm 1980, khi Nhật Bản đang vươn lên đến bậc cường quốc kinh tế thứ hai sau Mỹ. "Tại sao Nhật Bản thành công?" là nhan đề quyển sách của ông[1]. Để củng cố công trình lý thuyết của ông, Morishima phải giải quyết vấn nạn đầu tiên: Khổng giáo là triết lý của Trung Hoa, vậy tại sao Trung Hoa lại lệt đệt như vịt bầu trong khi Nhật Bản cất cánh như diều hâu? Trả lời của tác giả dựa trên Weber: giống như thánh kinh là một, nhưng Thiên chúa giáo và Tin Lành giải thích hai cách khác nhau, Khổng giáo là một nhưng Nhật giải thích không giống Tàu. Khổng giáo làm nền tảng cho phát triển kinh tế ở Nhật, vì vậy, là Khổng giáo Nhật Bản, không phải Khổng giáo ở chính quốc. Hai thứ đạo đức khác nhau tạo ra hai cá tính dân tộc khác nhau, đưa hai nước đi theo hai con đường riêng trên quá trình hiện đại hóa, anh đường anh tôi đường tôi, tình nghĩa Khổng giáo đôi ta có thế thôi. Cũng vậy, thứ Khổng giáo đặc biệt Nhật Bản đó, thứ đạo đức đặc biệt Nhật Bản đó, thứ cá tính dân tộc đặc biệt đã làm Nhật Bản là Nhật Bản đó, tóm lại, thứ văn hóa nền tảng đó, cũng đã làm tư bản chủ nghĩa ở Nhật phát triển không giống ai, nghĩa là không giống tư bản chủ nghĩa ở chính quốc Tây phương.
| Ngôi đền Kofukuj hàng ngàn năm tuổi (ảnh NYT) |
Đó là hai phần trong thuyết giảng của Morishima về phát triển kinh tế của Nhật. Hai phần như hai mặt của một đồng tiền duy nhất, đồng tiền đạo đức Khổng giáo Nhật Bản. Mặt thứ nhất cắt nghĩa Khổng giáo Nhật khác Khổng giáo ở Trung Quốc thế nào. Mặt thứ hai cắt nghĩa như thế nào tư bản Nhật khác tư bản gốc.
Khổng giáo Nhật Bản
Nhật là hòn đảo, đại dương cách biệt, chẳng núi liền núi sông liền sông, nên khi Khổng giáo đến Nhật thì cách hiểu cũng chẳng liền nhau. Đức Khổng dạy: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Học ngài, Trung Hoa đặt "nhân" lên hàng đầu, quan trọng nhất trên tất cả mọi giá trị. Cũng học ngài, Nhật không nhấn mạnh "nhân" mà lại xem trọng nhất là "trung". Khổng Tử cũng dạy trung hiếu tiết nghĩa, nhưng cốt tủy trong triết lý của ngài vẫn là nhân. Khác biệt đó là căn bản, giải thích tất cả, theo Morishima.
Vua Minh Trị, trong huấn lệnh ban cho quân sĩ, sắp hạng lại năm giá trị của Khổng giáo theo thứ bậc khác: trung, lễ, dũng, tín và đạm bạc. Không chỗ nào nói đến nhân. Quân đội cũng như toàn thể dân chúng, năm giá trị đó áp dụng như nhau. Mà điều đó cũng chẳng có gì mới: từ xưa đã vậy, chỉ càng ngày càng rõ hơn, khi nước Nhật đi vào hiện đại hóa.
Ý nghĩa của "trung" cũng khác nhau giữa Nhật và Trung Hoa. Ở Trung Hoa, "trung" còn hàm nghĩa thành thật với lương tâm. Trung với chúa có khi đặt vấn đề trái hay không trái với lương tâm của mình. Ở Nhật, ai cũng hiểu "trung" là tận tâm tận lực phò chúa cho dù phải hy sinh thân mạng, chuyện lương tâm không đặt ra. Ý nghĩa đó sâu đậm trong những năm cuối cùng của triều đại Tokugawa rồi phổ thông trong thời Minh Trị. Trung thành với chủ, hiếu để trong gia đình, tôn trọng bậc trưởng thượng: đó là ba giá trị chỉ huy các mối quan hệ trên dưới trong xã hội, đặt cơ sở trên quyền lực, huyết thống, tuổi tác. Trong suốt lịch sử của Nhật, cá nhân chủ nghĩa chẳng bao giờ phát triển, cho nên tự do chủ nghĩa cũng chưa hề có đất đứng.
Khác nhau trên bậc thang giá trị, Nhật Bản và Trung Hoa còn khác nhau trên định chế chính trị. Trung Hoa cai trị bằng một bộ máy quan liêu hoàn toàn dân sự, cho dù lãnh thổ thống nhất hay chia năm xẻ bảy giữa các chư hầu. Ở Nhật, trái lại, chỉ một dòng họ trị vì suốt lịch sử, nhưng từ 1192 đến 1867, quốc gia đặt dưới hai trung tâm chính trị khác nhau, một dưới quyền uy hữu danh vô thực của thiên hoàng, một dưới thực quyền của Tướng Quân, trung tâm thứ nhất gồm quan chức dân sự, nhưng trung tâm thứ hai là bộ máy cai trị quân sự do giới võ sĩ lãnh đạo. Triều đại Tokugawa (1603-1867) là mô hình rõ nhất của chế độ quân sự: các tướng quân cầm đầu một bộ máy hành chánh võ sĩ cha truyền con nối.
Tôn giáo của vua là thần đạo, nhưng ý thức hệ chính trị của cả hai trung tâm là Khổng giáo. Trung Hoa, như vậy, là một quốc gia Khổng giáo và dân sự; Nhật Bản là một quốc gia Khổng giáo và quân sự. Đặt nặng trên "nhân", Khổng giáo ở Trung Hoa phù hợp với đặc tính dân sự của chế độ chính trị. Đặt nặng trên "trung", Khổng giáo của Nhật đáp ứng đặc tính quân sự của xứ sở võ sĩ. Đạm bạc là giá trị của con nhà võ, cung đình ở Nhật không có thái giám và ba ngàn cung nữ. Trên nguyên tắc, võ sĩ chỉ ngủ với thanh gươm.
Vừa thờ thiên hoàng vừa thờ tướng quân, làm thế nào anh võ sĩ thời Tokugawa dung hòa được lòng trung thành với cả hai? Bằng cách triệt để tôn trọng thứ bậc, đẳng cấp. Anh võ sĩ quèn ở cấp dưới trung thành với tiểu tướng quân của anh ở cấp trên trực tiếp; anh tiểu tướng quân trung thành với cấp trên trực tiếp là đại tướng quân; đại tướng quân trung thành với thiên hoàng. Bằng thứ bậc trung thành như thế, toàn thể dân chúng, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, trung thành với vua. Dù quyền uy chính trị nằm trong thế lưỡng đầu, đạo đức trung thành vẫn không gặp mâu thuẫn, ít nhất là trên lý thuyết.
Cả lý thuyết lẫn thực tế, nếu Khổng giáo Trung Hoa được xem như là "nhân bản", thì Khổng giáo Nhật Bản đúng là mang tính dân tộc chủ nghĩa. Một dân tộc chủ nghĩa lúc đầu hãy còn đậm bản năng tự vệ, phát sinh do mặc cảm tự ty về văn hóa so với văn minh Trung Hoa. Yếu kém, lạc hậu về văn hóa, Nhật phải xác nhận đặc tính dân tộc của mình là dũng khí và kỹ luật đạm bạc. Cũng vậy, cũng vì tự ty mặc cảm đối với tiến bộ Tây phương hồi thế kỷ 16, Nhật phải canh tân trên cùng cơ sở văn hóa dân tộc chủ nghĩa ấy để lấp đầy khoảng trống cách biệt.
Trong khi guồng máy quan chức Trung Hoa rung đùi với thơ phú, guồng máy võ sĩ đạo của Nhật chú mục vào khí giới của Tây phương, mà khí giới là khoa học, kỹ thuật. Từ đó, nẩy mầm một đặc điểm mấu chốt của chủ nghĩa tư bản Nhật: khác với động lực tự do cá nhân đã thúc đẩy tư bản chủ nghĩa ở Tây phương, ở Nhật động lực là quyết tâm của giới lãnh đạo phải bắt kịp cho bằng được tiến bộ quân sự, khoa học, kỹ thuật của phương Tây. Cá nhân ở đây không phải là giá trị tối thượng như trong triết lý Tây phương mà phải biết hy sinh để phụng sự lý tưởng chung: "trung" là vậy. Là vậy, đó là xương sống của chủ nghĩa tư bản Nhật.
Khác về giá trị xử thế, khác về định chế xã hội, Nhật còn khác Trung Hoa về cấu trúc xã hội. Sĩ, nông, công, thương là bốn giai cấp trong xã hội Trung Hoa, trong đó sĩ đứng đầu, cung cấp nhân sự cho guồng máy chính trị và hành chánh. Ở Nhật, sĩ cũng đứng đầu, nhưng quý vị này không phải là các nhà nho mà là samourai. Trung dũng là giá trị của họ. Triều đại Minh Trị mở rộng giai cấp võ sĩ này ra bằng cách phổ biến Khổng giáo và mở mang giáo dục phổ thông cho đến tận hang cùng ngõ hẻm.
Ngày trước, Khổng giáo chỉ hạn chế trong giới thượng lưu, bây giờ làng xóm đều mở trường dạy học, con trẻ đâu đâu cũng ê a chữ nghĩa thánh hiền. Đồng thời với phát triển kinh tế, trình độ học thức của giới võ sĩ cũng được nâng lên. Trước, võ sĩ quèn nhiều anh mù tịt chữ; bây giờ anh buộc phải học. Ba giới kia, nông công thương, nếu có học thức cũng được xem trọng như võ sĩ, xếp hàng ngang nhau. Từ đó, pha trộn xã hội đã xảy ra từ cuối triều đại Tokugawa: một anh nông dân có học xin đeo chiếc nhẫn cưới vào ngón tay của cô quý nữ con nhà samourai là chuyện vui vẻ cả làng. Giáo dục càng được dân chủ hóa với Minh Trị, giai cấp võ sĩ sùng Khổng càng nới rộng ra: Khổng giáo trở thành ý thức hệ phổ thông. Ý thức hệ đó tồn tại song song với thần đạo, tôn giáo của thiên hoàng mà dân chúng tôn thờ.
Hậu quả của tình trạng đó là thăng tiến xã hội, thăng tiến giữa hàng ngũ võ sĩ cũng như thăng tiến giữa các giai cấp khác. Điều này cắt nghĩa tại sao sau khi chủ nghĩa tư bản đã được an bài ở Nhật dưới thời Minh Trị, người Nhật không xem kinh tế tư bản như thiết lập trong nước họ, khác với Tây phương, một xã hội giai cấp với hai giai cấp đối nghịch nhau, tư bản và công nhân. Với giáo dục được mở rộng và hiện đại, con cái của các giai cấp dưới đều có điều kiện để học lên cao, đều được bổ nhiệm vào những chức vụ tương xứng, chẳng có kính hiển vi nào chiếu vào lý lịch.
| Ở đền Kasuga, Nhật Bản, trẻ em ăn mặc như võ sĩ samurai và tập luyện cho lễ hội tôn giáo (ảnh NYT) |
Thăng tiến xã hội; giáo dục hiện đại, phổ thông; hành chánh lành mạnh, hữu hiệu; lãnh đạo sáng suốt; nhân dân kỹ luật; than ôi, sao người ta làm ăn hay thế nhỉ? Phát triển kinh tế là cái xác, người ta biết thế. Cho nên, than ôi, người ta cũng biết chú trọng cái hồn. Vì vậy, than ôi, ông Minh Trị kia mới dám đưa ra khẩu quyềt để đời: "hồn Nhật, kỹ thuật Tây". Bên trong ông mạnh nên bên ngoài ông mới thắng. Hình như bí quyết nào cũng đơn giản thế thôi.
Minh Trị và tư bản Nhật
Cách nhìn vấn đề như đã nói ở trên chia lịch sử nước Nhật ra làm hai thời kỳ: từ thế kỷ thứ 6 đến giữa thế kỷ 17 khi nước Nhật ý thức được hiểm họa an ninh đến từ Trung Hoa; thời kỳ thứ hai bắt đầu với cuối trào Tokugawa khi hiểm họa an ninh đến từ yếu kém khoa học, kỹ thuật. Hai thời kỳ được khâu lại với nhau bằng một sợi chỉ điều văn hóa: đạo đức Khổng giáo được dân tộc hóa, quân sự hóa.
Với đạo đức đó, Minh Trị phát triển kinh tế. Lịch sử phát triển có thể chia ra ba giai đoạn: giai đoạn một kéo dài đến cuối thế giới chiến tranh thứ nhất; giai đoạn hai nằm giữa hai chiến tranh; giai đoạn ba sau khi Nhật thất trận. Trong thời kỳ đầu, chủ nghĩa tư bản Nhật là chủ nghĩa tư bản Nhà nước, xây dựng trên việc thành lập những xí nghiệp công, hiện đại, tầm vóc khổng lồ, tổ chức hoàn bị, kỹ luật chặt chẽ, phát động tinh thần thượng võ sẵn có. Đâu phải dễ dàng gì lúc đầu, cái gì cũng thiếu, thiếu doanh nhân đã đành, thiếu cả nhân viên, thiếu cả công nhân có tay nghề. Chuyện đầu tiên là tìm nhân viên ở đâu? Tất nhiên trong giới võ sĩ. Do đó, hồi mở đầu, các doanh nghiệp Nhà nước nhận giới võ sĩ vào làm nhân viên. Giới này làm việc với tinh thần võ sĩ đạo của họ, nghĩa là vì chủ quên mình, và chủ ở đây là Nhà nước, là lý tưởng dân tộc.
Công nhân cũng thiếu, tìm đâu? Tìm cả nữ, và nữ công nhân được tuyển trong gia đình giới võ sĩ cấp dưới. Còn nam? Hai vấn đề phải giải quyết: một là kiếm cho ra số lượng công nhân có tay nghề, hai là kiếm ra rồi thì phải giữ họ thật lâu để tránh họ vượt biên qua hãng khác. Đào tạo công nhân có khả năng là bước đầu tiên. Công việc đó được trao cho giáo dục. Tuy vậy, lúc đầu tình trạng khan hiếm công nhân chuyên môn trầm trọng đến mức các xí nghiệp phải "ăn cắp" công nhân lẫn nhau. Giáo huấn, tôi luyện tính trung thành với xí nghiệp coi bộ chưa đủ, trung thành bèn được củng cố thêm bằng một biện pháp cụ thể: trả lương hậu. Từ đó, bắt đầu xuất hiện chính sách trả lương theo thâm niên.
Khởi thủy, biện pháp đó được áp dụng cho nhân viên bàn giấy trong các đại xí nghiệp, nghĩa là đa số các võ sĩ thời đại mới. Các xí nghiệp nhỏ và vừa không đủ sức để mua trung thành theo kiểu đó. Bù lại, các xí nghiệp lớn buộc nhân viên và công nhân phải làm việc suốt đời với hãng. Nhảy rào qua hãng khác bị xem như một hành động phản bội, và kẻ phản bội không bao giờ được tha thứ trong xã hội võ sĩ. May lắm là anh phản bội kiếm được chỗ dung thân trong một xí nghiệp tư nhỏ và vừa.
Nói một cách khác, có hai thị trường lao động. Thị trường thứ nhất mở rộng thường xuyên, gồm các xí nghiệp nhỏ và vừa. Thị trường thứ hai chỉ mở ra một lần duy nhất trong đời của các anh kẻ sĩ Nhật. Một lần tuyển dụng là trăm năm chăn gối. Anh gắng học cho giỏi, đỗ thật cao, xuất thân từ trường danh tiếng, thế là anh mới có triển vọng được tuyển dụng. Tuyển xong, liệu cái thần hồn, đừng hòng mơ tưởng ly dị với ly thân. Tầng lớp thượng lưu trong thế giới kỹ nghệ Nhật không có chút tự do nào trong đời sống nghề nghiệp. Hoàn cảnh của họ y hệt như cha ông họ trước đây, tôi ngay trung thành một chúa.
Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, các cường quốc tư bản Tây phương xâu xé nhau, kinh tế Nhật thừa cơ chiếm lĩnh thêm thị trường. Sản xuất, sản xuất, sản xuất tăng gia không ngừng, nhân công lại thiếu. Thể thức thâm niên được nới rộng ra thêm, áp dụng cho cả công nhân. Như vậy có phản kinh tế chăng? Có hại cho việc sinh lời chăng? Chẳng lẽ lương cao chỉ vì tuổi tác? Vì sống lâu lên lão làng? Hay là phải hạ mức lương khởi đầu, khi tuyển dụng, để mức lương cuối không quá cao? Cũng không ổn, vì giới trẻ, khi bắt đầu vào nghề, tội gì không chọn chỗ nào trả lương cao?
Biện pháp cuối cùng đề ra là đặt nặng việc đào tạo nghề nghiệp trong nội bộ xí nghiệp. Công nhân được đào tạo tại chỗ, trẻ học tay nghề, già truyền kinh nghiệm, trẻ khởi hành với việc tay chân, già từ từ kết thúc với việc phối hợp, điều khiển. Giữa trẻ với già, ngay cả trong xí nghiệp, giá trị Khổng giáo vẫn giữ được trọn tình trọn nghĩa. Vì vậy, trong nội bộ xí nghiệp, sự phân biệt giữa hai hạng công nhân, làm việc tay chân hay không, không rõ ràng. Người thợ không có ý thức phân minh về chuyên môn nghề nghiệp; ý thức rõ ràng nhất trong đầu họ là làm việc cho xí nghiệp nào. Suốt đời họ làm việc cho xí nghiệp ấy, từ việc tay chân qua việc không tay chân, chính xí nghiệp định đoạt thay cho họ công việc mà họ làm, họ làm suốt đời cho xí nghiệp, trung thành với xí nghiệp, chứ không phải suốt đời cho một nghề, trung thành với một nghề. Điều này cắt nghĩa tại sao phong trào thợ thuyền yếu đến thế ở Nhật. Nâng cao tinh thần tranh đấu với cái búa không phải là việc của chàng công nhân; việc của chàng là nâng cao hiệu quả qua không khí làm việc trong xí nghiệp, tình đồng đội đồng sở, tình gia đình, tình gia trưởng.
Bởi vậy, các xí nghiệp lớn đi xa hơn nữa trong chính sách đào tạo nghề nghiệp nội bộ. Họ mở trường dành riêng cho nhân viên. Hiệu quả sản xuất tăng vọt so với các xí nghiệp vừa và nhỏ. Lương cũng vậy. Lúc đầu, lương ở các xí nghiệp Nhà nước vượt lương ở các xí nghiệp tư nhân, dần dần khoảng cách cũng diễn ra giữa các xí nghiệp tư nhân với nhau. Cái này lôi kéo theo cái khác: hiệu quả kinh tế cao kéo theo lời cao, lời cao kéo theo lãi cao, lãi cao kéo theo tích lũy tư bản cao, kéo theo canh tân kỹ thuật, kéo theo hiệu quả kinh tế, và cứ thế vòng tròn xoáy ốc tái diễn. Nghĩa là gì? Là lương cao vượt xa các xí nghiệp nhỏ. Mà đâu phải chỉ lương: còn bao nhiêu lợi ích xã hội khác nữa đãi ngộ nhân viên. Chưa đủ, các xí nghiệp lớn còn đào tạo luôn cả tính nết của nhân viên, nâng cao kiến thức văn hóa, truyền đạt nghệ thuật làm chủ. Đến mức họ có cả một đội bóng, một câu lạc bộ thể thao, một hội thơ văn, những buổi trà đạo, hoa đạo. Rồi họ hoạt động như một ngân hàng tiết kiệm, nhận tiền ký thác của nhân viên với mức lãi cao hơn bên ngoài, như một hãng bảo hiểm, như một hợp tác xã, cung cấp dịch vụ tốt hơn, gần gũi hơn.
Với bao nhiêu lợi ích đó, nhân viên, công nhân gắn bó với xí nghiệp suốt đời. Không chừng hơn cả cưới nhau. Khi dạm mặt - nghĩa là tuyển dụng - xí nghiệp xem thử anh chàng ứng viên kia tính nết thế nào, trung thành hay không, keo sơn đến đâu, ấy là chuyện chính. Khả năng nghề nghiệp tính sau. Tư bản chủ nghĩa ở Tây phương đâu có chơi kiểu đó!
Gia trưởng là tinh thần làm việc trong xí nghiệp, giống như trong gia đình. Xí nghiệp là một gia đình đoàn kết trên dưới. Toàn thể nhân viên trong xí nghiệp là một ê kíp, đối đầu với các xí nghiệp khác, cũng như một ê kíp. Trăm người như một. Giữa nhân viên, đồng nghiệp, không có tranh đua cá nhân, chỉ một lòng hợp tác, tương trợ, tranh đấu tập thể. Làm việc trong xí nghiệp cũng giống như làm việc trong cảnh sát, quân đội. Vinh quang không phải dành cho cá nhân mà cho tập thể. Cá nhân hài lòng khi lòng trung thành được chứng tỏ. Nếu cần, sẵn sàng làm thêm giờ không thù lao. Nếu đội bóng của hãng cần mình đến cổ võ, phải biết sẵn sàng bỏ một cuộc hẹn cuối tuần với cô bạn gái. Những cử chỉ trung thành như thế, hãng sẽ không quên, sẽ tưởng thưởng xứng đáng. Trong bối cảnh xã hội như vậy, kẻ nào rêu rao tự do cá nhân, kẻ ấy chỉ có thể là tên phản bội, khiêu khích, tự mình cô đơn hóa số phận.
Tây phương không thể hiểu nổi thứ hợp đồng lao động đó. Trung thành là giá trị tột bậc. Mà, học cho kỹ nhé, thị trường trung thành chỉ mở ra một lần duy nhất trong đời anh samourai tân trào. Nếu vô phúc anh không thích chủ nữa, tương lai duy nhất của anh sẽ y hệt anh samourai cựu trào, nghĩa là samourai vô chủ, xách kiếm lang thang giết mướn chém thuê. Xưa cũng như nay: hai thị trường lao động song song, ai muốn tự do cứ tìm trên thị trường lính thuê. Nhưng thị trường này chỉ dành cho những kẻ đã hỏng chân trên thị trường trung thành. Tự do, đâu có phải ai cũng biết chết với nó!
Tóm lại, hai cấu trúc xí nghiệp tồn tại song song. Cạnh tranh có không trong tư bản Nhật? Có, và khiếp lắm. Nhưng cạnh tranh giữa các xí nghiệp, không phải giữa các cá nhân. Mỗi xí nghiệp là một xã hội riêng, tổ chức đủ mọi hoạt động, lo lắng cho nhân viên cả phần xác lẫn phần hồn. Chủ nghĩa tư bản Nhật là tư bản "dân tộc chủ nghĩa, gia trưởng chủ nghĩa, phi cá nhân chủ nghĩa".
Nhưng đừng quên: mục tiêu của Minh Trị là xây dựng một Nhà nước hiện đại. Các xí nghiệp có bổn phận góp phần vào lý tưởng đó. Giống như các Tướng Quân ngày xưa, trung thành với Nhà nước là nỗi lòng của xí nghiệp. Cạnh tranh nhau, được. Nhưng khống chế Nhà nước, không. Chưa đầy 50 năm, Nhật trở thành cường quốc.
****************
Bài tóm tắt nhỏ này được viết không ngoài mục đích bổ túc thêm cho một bài viết đã được phổ biến vài tháng trước đây dưới nhan đề: "Từ bao giờ và bằng cách nào Nhật Bản thoát ra khỏi quỹ đạo văn hóa của Trung Quốc?"
Bài viết kia dựa trên một công trình nghiên cứu bác học. Bài viết này tóm tắt một tác phẩm luận đề. Cả hai đều giống nhau trên cùng một quan điểm: hiện đại hóa không nhất thiết đồng nghĩa với Tây phương hóa. Nhưng luận đề thì dễ bị bắt bẻ từ căn bản. Ngoài những bắt bẻ mà Weber đã nhận lãnh, hoặc đúng hoặc sai, trình bày của Morishima còn bị thêm nhiều phản biện khác. Có cần phải viện dẫn Khổng giáo để giải thích chính sách cứng rắn của Minh Trị trong giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hóa? Có nước chậm phát triển nào không can thiệp gân guốc như vậy để cất cánh kinh tế, kể cả nước Đức, kể cả nước Nga? Mà Nhật đâu có phải chỉ có Khổng giáo? Đâu là ảnh hưởng của thiền tông trên tinh thần võ sĩ đạo? Nơi nhan đề của quyển sách, tác giả đã đặt hai chữ thành công trong ngoặc kép: "Tại sao Nhật Bản "thành công"?. Ông biết dân tộc chủ nghĩa và quân sự chủ nghĩa đã đưa nước Nhật đến thảm họa nào. Và ông cũng biết thành công kinh tế của Nhật cũng xây dựng trên sự khai thác nông dân và công nhân.
Tất cả những điều đó đã khiến tác giả phải xác nhận ngay trong phần mở đầu và lặp lại trong phần kết thúc: "Lịch sử nước Nhật là một lịch sử đặc biệt". Những giá trị văn hóa làm nòng cốt cho phát triển kinh tế cũng là những giá trị riêng biệt của Nhật. Hạn chế tầm nhìn như vậy thì giảm giá trị phổ quát của một luận đề mà Weber muốn chứng minh, nhưng lại có cái lợi là cũng hạn chế chỉ trích.
Bởi vì, dù sao đi nữa, không ai chối cãi được tầm quan trọng của yếu tố văn hóa trong quá trình cất cánh kinh tế. Trước Morishima, một tác giả Mỹ, Robert Bellah, đã trình bày cùng một quan điểm trong quyển sách của ông, "Tokugawa Religion" (Beacon Press, Boston, 1957). Không ai bác bỏ được mấy câu mào đầu của Morishima trong nhập đề: Nếu các biến đổi về những điều kiện vật chất có thể dần dần làm thay đổi những đặc điểm văn hóa, thì ngược lại, "cấu trúc kinh tế và những quan hệ kinh tế cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những giá trị đạo đức của một dân tộc. Nhiều trường hợp cho thấy dù cho những điều kiện vật chất có giống nhau đến mấy đi nữa, cái gì xảy ra được ở Nhật có thể không xảy ra ở Tây phương và ngược lại".
Nhấn mạnh nền tảng văn hóa đó bao nhiêu cũng không đủ trong tình trạng làm giàu vô kỷ luật ở ta. Nhưng vừa nói xong thì đã nghẹn lời. Ai có chút lòng với đất nước đều chua xót: Phát triển kinh tế ở ta không dựa trên một đạo đức gì cả. Đạo đức cá nhân cũng không. Đạo đức dân tộc cũng không. Trên thửa đất trống đạo đức, ai thừa cơ múa gậy vườn hoang nếu không phải là tham nhũng?
[1] Why has Japan "succeeded". Western Technology and the Japanese Ethos, Cambridge University Press, 1984, 2nd edition. Bằng tiếng Pháp: Capitalisme et Confucianisme. Technologie occidentale et éthique japonaise, Flammarion, 1987. Michio Morishima (1923-2004) đã từng dạy tại các đại học danh tiếng nhất: Oxford, Yale, London School of Economics.
VĨNH BIỆT MẸ THỨ
MỘT NÉN HƯƠNG THẮP CHO MẸ THỨ
Mai Thanh Hải
Rạng sáng nay Mẹ đã về với các anh. Thời khắc 1 giờ 40 phút sáng, những ngọn đèn trên cầu quay Sông Hàn, cầu dây văng Thuận Phước đã cúi xuống, mờ đi để ánh sáng của ngôi sao Mẹ chầm chậm bay lên từ thành phố bên Sông Hàn đang say ngủ, ứa nước mắt khi thấy sao Mẹ tần ngần lần cuối nhìn vùng cát trắng Quảng Nam, nghẹn ngào trông mẹ chấp chới rơi vào vòng tay của hàng triệu ngôi sao Con, vẫn đang đêm ngày ngóng đợi Mẹ...
Sẽ có người Việt cùng máu đỏ da vàng không biết đến Mẹ. Nhưng chúng con, những người đã nằm xuống, những người còn đang sống và cả những người sẽ sống luôn ghi khắc trong lòng công ơn với Mẹ. Cũng như lịch sử dân tộc, luôn trân trọng: Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ (sinh 1904 - mất 2010, quê xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, Quảng Nam). Người Mẹ đã cống hiến 12 người thân cho sự nghiệp giải phóng đất nước.
12 chỉ là con số. Nhưng đứt ruột sinh ra 10 người con, nuôi 10 người con lớn lên, gạt nước mắt cho 10 người con cầm súng và vật vã, chết lên chết xuống khi lần lượt nhận được tin 9 người con của mình ngã xuống. Mất gần hết những núm ruột, đến con rể và 2 cháu gái cũng nằm xuống. Có nỗi đau nào hơn thế, mất mát tận cùng đến thế Mẹ ơi!.
Con đã từng ngồi lịm, run tay cầm cây bút nặng như thể quả núi, vạch từng nét chữ giữa trụ sở UBND xã cũng lặng phắc, để làm công việc của 1 thằng Nhà báo "Ghi lại thông tin về 12 núm ruột, giọt máu của Mẹ": 4 người hy sinh trong kháng chiến chống Pháp là các anh: Lê Tự Xuyến (hy sinh ngày 18-6-1948), Lê Tự Hàn (anh - hy sinh 5-10-1948), Lê Tự Hàn (em - hy sinh ngày 15-10-1948), Lê Tự Lem (hy sinh 1-4-1954); 8 người con, rể, cháu hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, gồm các con trai: Lê Tự Nự (hy sinh 5-9-1966), Lê Tự Mười (hy sinh ngày 14-4-1972), Lê Tự Trịnh (hy sinh 12-9-1972), Lê Tự Thịnh (hy sinh 28-8-1974) và Lê Tự Chuyền (hy sinh đúng ngày 30-4-1975); con rể Ngô Tường (hy sinh năm 1957) và 2 cháu ngoại Ngô Thị Điểu (hy sinh năm 1970), Ngô Thị Cúc (hy sinh 1973).
Nỗi đau chồng lên nỗi đau, nhưng Mẹ vẫn nén lại, đào hầm nuôi giấu cán bộ. Thời kháng chiến, ở khu vườn của rộng cả hecta, Mẹ đào 5 hầm bí mật và cùng con gái đầu Lê Thị Trị nuôi giấu không biết bao nhiêu bộ đội, du kích. Chở che núm ruột, giọt máu của các bà mẹ khác, Mẹ câm lặng, lụi hụi trông coi, tiếp tế cho những căn hầm bí mật. Mất con nhưng vẫn bền gan nuôi con, Mẹ dặn bộ đội: "Ban đêm hễ không có địch thì Mẹ để đèn sáng trên bàn thờ, còn lúc có địch thì không chong đèn"...
Lần đầu gặp Mẹ năm 2001, hồi ấy anh Phạm Văn Miên, Phó Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân đưa lũ phóng viên lính mới tò te chúng con vào thăm Mẹ và ngắn gọn "Tiện xem cái nhà tặng cụ thế nào". Sách vở, nhà trường dạy chúng con nhiều điều, thế nhưng có điều chúng con không thể tưởng tượng nổi là nỗi đau lại chất chồng lên vai Mẹ nhiều đến như thế, nặng đến như thế và khủng khiếp đến như thế... Từ đường đất, chúng con men theo con đường lầm lụi cát trắng, rát bỏng dưới gan bàn chân và lại vào vườn cát, lơ thơ vài cây sắn còi cọc, vài luống khoai lang lá héo rũ bởi gió cát. Mẹ nhỏ nhoi, gầy yếu, nhăn nheo và còng lưng từ căn nhà lá cũ, chống gậy ra... tiếp khách. Con đã ngập ngừng bước vào căn nhà Báo Công an nhân dân xây tặng Mẹ, sững sờ trước cả khoảng trống rộng rãi trong căn nhà chỉ có duy nhất bộ bàn ghế và như khụy xuống trước 2 hàng khung treo ngay ngắn những tấm Bằng Tổ quốc ghi công, trên bàn thờ cũng 2 hàng bát hương loang khói...
Căn nhà xây lên, Mẹ để dành treo ảnh con cháu, Bằng Tổ quốc ghi công. Có nhà xây, những ảnh, những Bằng kia không còn bị nước dột khi mưa, không bị gió xô lệch khi bão gió đều đặn, thất thường. Mẹ mất tất cả rồi, nhà cao rộng cũng như không...
Mẹ ạ! Ở quê của con cũng có 1 nghĩa trang Liệt sĩ. Trong ký ức của cái thằng bé đeo khăn quàng đỏ, đánh trống ếch mỗi dịp 27-7 ngoài cổng nghĩa trang Liệt sĩ như con, vẫn không thể quên hình ảnh những bà, những mẹ, những chị quần ống thấp ống cao, nón lá tụt sau lưng, ôm những ngôi mộ xi măng đắp ngôi sao vàng, gắn hình những anh, chú, bác bộ đội trẻ măng, tươi rói mà gào khóc, mà nức nở. Những ngôi mộ ấy quây quần thành 3 cuộc chiến tranh: Chống Pháp, chống Mỹ và chống quân xâm lược Trung Quốc.
Ký ức của thằng bé con gần 10 tuổi, vẫn vẹn nguyên cảnh đứng nép bên đường, vẫy tay chào các chú bộ đội đứng chật thùng xe, nối nhau hàng đoàn ngược lên biên giới hồi tháng 2-1979; không thể nào quên những bà, những bác, những cô cơm nắm muối vừng lên Lạng Sơn, Bình Liêu, Hà Cối thăm các anh, các chú trên chốt biên cương. Và ở cái làng cuối sông Hồng, gần 10 người con đã về nghĩa trang từ biên giới phía Bắc, trong chiếc tiểu sành nâu sẫm, trên phủ lá cờ đỏ sao vàng, giữa hàng tiêu binh lưỡi lê sáng quắc. Và ở quê con, cũng có những bà, bác, cô hóa thành ngây dại, suốt ngày ôm tấm áo, chiếc ba lô người thân mà vuốt ve, cưng nựng hay hóa đá trước bàn thờ, Bằng Tổ quốc ghi công...
Trên đời này, không nỗi đau nào bằng nỗi đau mất người thân. Với mẹ, nỗi đau không chỉ nhân lên chục lần, mà còn đến vạn vạn lần. Đau đến mức không còn nước mắt để khóc, không còn sức để gọi con mỗi ngày giỗ. 2 cuộc chiến qua đi, đất Quảng Nam tuy vẫn vất vả, gian lao "chưa mưa đã thấm", nhưng mọi vết thương trên thịt da, rồi cũng lành lặn, nguôi ngoai. Nhưng với Mẹ, nỗi đau mất mát, vết thương lòng khó có thể lắng xuống.
Sách vở nói "Chiến tranh là một hiện tượng chính trị xã hội có tính chất lịch sử". Nhưng con thì thấm thía "con người ta sinh ra không phải để cầm súng bắn nhau" và rưng rưng "nghe đau thương chìm trong khói sương/ mây khói tan rồi, còn lại mẹ tôi". Trên đất nước này và ở ngay chính đất Quảng thân thương, còn rất nhiều bà mẹ ban ngày nén nỗi đau, ủ mất mát, để rồi ban đêm, nghe gió lùa ngoài khe cửa, nghe thạch sùng tặc lưỡi trên mái nhà mà vỡ ào nỗi đau bằng tiếng ho khan nấc nghẹn, thổn thức khóe mắt khô...
Hơn 36 năm kể từ khi con út Lê Tự Chiều hy sinh đúng vào ngày Đại thắng (30-4-1975), đã ai biết mỗi bữa ăn, Mẹ thường dọn đủ 9 chiếc bát, 9 đôi đũa và ngồi rủ rỉ nói chuyện cùng 9 đứa con đã nằm xuống. Mùi gạo mới quyện ngát khói hương.
Hơn 63 năm kể từ khi anh cả Lê Tự Xuyến hy sinh (18-6-1948), gần 23.000 đêm Mẹ mất ngủ, thon thót lo cho con, nhớ những kỷ niệm về con và lại rờ rẫm thắp hương cho con, chong đèn ngồi nói chuyện với những đứa con. Tàn hương cháy lập lòe trên bàn thờ, bừng lên trong mắt mẹ như bóng dáng thịt da con chơi đùa, nhảy nhót thửa thiếu thời...
Đất nước mình gian lao nhưng chưa bao giờ bình yên. Vẫn còn những bà mẹ ngóng trông, thương nhớ và cạn nước mắt khóc những đứa con không bao giờ trở lại. Máu người Việt vẫn đổ ngoài biển sóng Trường Sa, trên đường tuần tra biên giới, giữa cuộn ào nước lũ miền Trung... Mọi nỗi đau đều giống nhau và cũng đều khác nhau. Thế nhưng mọi nỗi đau đều dừng bên chân Mẹ. Đất nước này, Tổ quốc này nợ các mẹ nghĩa tình xương máu. Những người Việt máu đỏ da vàng nợ các mẹ niềm ghi dấu ơn sâu, tri ân hạnh phúc...
Gần 100 năm xa cách, hôm nay, các anh và đồng đội đã đón Mẹ ở nơi vĩnh hằng và cả ngày, chắc mẹ sẽ móm mém cười nhiều lắm. Hình tượng của Mẹ được xây dựng thành công trình tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng để ghi nhớ công ơn của các bà mẹ Việt Nam. Hơn tất cả, hình tượng của Mẹ đã khắc ghi trong con và những người Việt.
Những dòng này, con xin được xem như nén hương thành kính, khâm phục thắp trên bàn thờ Mẹ - NGƯỜI MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG. Vĩnh biệt Mẹ - NGƯỜI MẸ TỔ QUỐC!
-----------------------------
Lễ viếng Mẹ bắt đầu từ 19 giờ ngày 10-12-2010, tại nhà riêng thôn Thanh Quýt 2, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; lễ truy điệu tổ chức hồi 8 giờ ngày 14-12-2010, di quan lúc 9 giờ cùng ngày; an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện Điện Bàn.
Nguồn: Mai Thanh Hải-Blog.
"ĐÁNH DẬP ĐẦU BỌN BÀNH TRƯỚNG BẮC KINH"

Ca trù
Giữ cho đẹp mãi quê mình
Thơ: Khuyết danh
Người trình bày: NSND Quách Thị Hồ
Thể loại: Hát nói Ca trù
Mưỡu:
Non xanh xanh, Nước xanh xanh
Nước non, non nước như tranh tuyệt vời!
Nước vờn buồm lộng ra khơi
Non vờn mây trắng, nắng phơi đồng vàng!
Hát nói:
Quê hương ta đấy!
Hà Nam Ninh biết mấy yêu thương,
Từ Giao An lấn biển kiên cường,
Đến rừng núi Cúc Phương bao hùng vỹ,
Gác Nghinh Phong trăng lồng non Dục Thúy
Dòng Nhị Hà sóng vỗ bến Đò Quan
Tiếng còi tầm nhà máy dệt ngân vang
Đồng Hải Hậu biển lúa vàng rỡn sóng
Này động Thiên Tôn, Này hang Địch Lộng,
Này chùa Cổ Lễ, Này tháp Báo Thiên,
Thành Hoa Lư nước Đại Cồ Việt vang tên,
Đền Bảo Lộc, Trần Hưng Đạo nửa đêm đang truyền hịch!
Đèo Tam Điệp, Nguyễn Huệ thần tốc hành quân diệt địch,
Quỳnh Lưu đuổi Nhật, Khánh Thiện - khu du kích đánh Tây,
Trai Long Phong súng trường hạ máy bay,
Gái Hải Thịnh bắn tàu chiến Mỹ.
Non nước ấy hun đúc thêm hào khí,
Đánh dập đầu bọn bành trướng Bắc Kinh!
Giữ cho đẹp mãi quê mình!
*
Saturday, November 6, 2010
Tội phạm
Ví dụ như nếu giết người, hắn chỉ cần kĩ lưỡng xóa dấu vân tay, quăng khẩu súng xuống sông hay biển gì đó, giấu luôn xác chết rồi tạo chứng cứ ngoại phạm. Vậy mà những kẻ làm hết tất cả việc đó một cách chuyên nghiệp vẫn bị bắt như thường.
Người ta nói lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó thoát là vậy. Hay nói cách khác, nếu muốn người ta không biết, trừ phi mình không làm. Haha hai câu này giống trong phim bộ Hồng Kông quá.
Hồi lúc mới tập tễnh bước chân vào lĩnh vực bảo mật, ước mơ lớn nhất của tôi là trở thành một tay cảnh sát điều tra chuyên về tội phạm liên quan đến máy tính, hay còn gọi tội phạm công nghệ cao như báo chí vẫn thường nói.
Chắc là do tôi đọc nhiều tiểu thuyết trinh thám máy tính quá :-p. Cũng có thể do tôi thích tìm hiểu tâm lý của bọn tội phạm.
Khi tìm hiểu một vụ nào đó, tôi thường tự hỏi (và cố tìm câu trả lời một cách thích thú), lúc thực hiện hành động này, tên tội phạm đang nghĩ gì nhỉ; mục đích của hắn là gì, tại sao hắn lại làm A, mà không làm B hay C.
Nói nghe có thể làm cho bạn giật mình, tôi thường nghĩ theo cách bọn tội phạm nghĩ. Ví dụ như khi bước chân vào một siêu thị, tôi thích nghĩ đến việc làm thế nào để chôm đồ của siêu thị mà không bị phát hiện. Hoặc khi vào trụ sở của một công ti nào đó, tôi cũng thường quan sát để tìm cách lọt qua các camera quan sát mà không bị ghi hình. Dĩ nhiên tôi chỉ nghĩ cho vui (theo thói quen nghề nghiệp), chứ nếu tôi làm thiệt thì chắc giờ tôi không còn ngồi đây viết blog rồi :-p.
Thường người ta có khuynh hướng cho rằng, tội phạm có liên quan đến máy tính và Internet thì khó bắt hơn tội phạm thông thường. Chúng (có vẻ) vô hình mà. Mọi người thường nghĩ bắt tên trộm chiếc xe bao giờ cũng dễ hơn tìm ra tên đã đánh cắp tài khoản hộp mail.
Thật tế cả hai đều khó (hoặc dễ) như nhau, tùy theo trình độ của tên tội phạm. Nếu chỉ xét đến đám tội phạm còn non kinh nghiệm, mới phạm tội vài lần, tôi nghĩ rằng truy lùng tội phạm máy tính dễ hơn là tội phạm thông thường. Thiệt ra tôi chưa truy lùng tội phạm thông thường lần nào :-p, nên tôi chỉ nói một cách chủ quan vậy thôi.
Không có gì là vô hình trên Internet cả. Mỗi hành động của bạn đều được ghi lại ở đâu đó, vô tình hay cố ý, bắt buộc hay không bắt buộc. Nếu muốn, vào ngày này năm sau, người ta vẫn có thể biết được rằng, hôm nay vào giờ này, bạn đang đọc blog của tôi.
Khi ai đó muốn xóa dấu vết của hắn ở ngoài đời, hắn chỉ cần lau thật sạch dấu vân tay và vết giày dép nếu có. Sẽ không hề đơn giản như thế nếu hắn muốn xóa thông tin lưu trong máy tính. Một khi bạn đã lưu trữ thông tin vào máy tính, hầu như bạn chẳng còn cơ hội nào để xóa nó đi. Dĩ nhiên bạn có thể đốt cháy máy tính của mình, nhưng vẫn còn có rất nhiều máy tính khác ngoài kia trên Internet có chứa thông tin liên quan đến bạn.
Rất ít người hiểu được điều này, đó cũng là lý do ngày càng có nhiều người sử dụng Internet làm công cụ để thực hiện hành vi phạm pháp. Họ nghĩ rằng Internet sẽ che chở họ, mà không biết rằng, chính Internet đã góp phần rất lớn để tìm ra họ.
Chẳng có đường sống nào một khi đã phạm tội, vậy nên hãy tập sống lương thiện!
thaidn.
Monday, October 11, 2010
Steve Jobs' 2005 Stanford Commencement Address
Think Different
Here's to the crazy ones. The misfits. The rebels. The troublemakers. The round pegs in the square holes. The ones who see things differently.
They're not fond of rules. And they have no respect for the status quo. You can quote them, disagree with them, glorify or vilify them.
But the only thing you can't do is ignore them. Because they change things. They push the human race forward.
And while some see them as the crazy ones, we see genius.
Because the people who are crazy enough to think they can change the world, are the ones who do.
Họ điên khùng. Không phù hợp. Nổi loạn. Chuyên gây rắc rối. Họ giống như nồi tròn vung méo. Họ nhìn mọi thứ khác với lẽ thông thường.
Họ không ưa các nguyên tắc. Họ làm đảo lộn hiện trạng. Bạn có thể bất đồng với họ, vinh danh hay đả kich họ.
Nhưng bạn không thể không chú ý tới họ. Bởi họ thay đổi thế giới và đưa nhân loại tiến lên phía trước.
Và trong khi họ bị coi là những kẻ điên khùng, chúng tôi lại thấy ở đó phẩm chất của những thiên tài. Bởi những người đủ điên để nghĩ bản thân có thể thay đổi thế giới sẽ chính là những người thực sự làm được điều đó.
Tuesday, September 7, 2010
Conmale ...
Nhân anh Mai PXMMRF đã đưa ra chủ đề chính thức "Về việc x-cafevn-db.info công bố thông tin của các thành viên HVA" nên tôi nghĩ mình có trách nhiệm phải đưa ra những thông tin cần thiết để anh em nắm rõ tình hình và để tránh ngộ nhận. Rất mong anh em đọc thật kỹ và suy gẫm trước khi phát biểu ý kiến.
1. Quan điểm chính trị của tôi:
Tôi là một người chuyên kỹ thuật và không có ham muốn hoặc đam mê chính trị. Tôi chỉ chuộng sự công bằng, trong sáng và tự do trong suy nghĩ, trong nhận định và trong việc phát triển tư duy. Dẫu tôi là người không đam mê chính trị, tôi vẫn dõi về VN rất nhiều và rất đều đặn. Gia đình, bạn bè, người thân của tôi vẫn sống ở VN và tất cả những chuyện đúng sai đều làm tôi phải suy nghĩ, thậm chí buồn bã hoặc tức giận. Đó là phản ứng tự nhiên của một con người yêu đất nước mình, yêu những con người cùng giòng giống với mình.
Tôi đã đi nước ngoài và sống ở nước ngoài hơn hai mươi năm. Hơn nữa, tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình yêu chuộng và cổ suý tinh thần tự giác và khả năng tự hình thành quan điểm cá nhân. Tôi không thích bị áp đặt, bị chỉnh huấn tư tưởng và bị dạy bảo "đúng hay sai" vì ích lợi chính trị nào hết. Nói một cách khác, tôi không chấp nhận những dạng định hướng mang tính áp đặt một cách thô thiển như: phê bình một đảng phái có nghĩa là chống tổ quốc. Đây là sự áp đặt một cách hồ đồ vì nó đồng hoá đảng phái là tổ quốc.
2. Thái độ và hành động của tôi đối với "các lề"
Từ trước khi cái nick conmale xuất hiện, tôi đã (và vẫn đang) thầm lặng giúp cố vấn kỹ thuật cho vô số các nhóm sinh hoạt, các tổ chức kể cả thương mại và phi thương mại trong giới hạn khả năng, giới hạn thời gian và giới hạn giờ giấc mà tôi có thể sắp xếp được. Tất cả những tư vấn này hoàn toàn miễn phí và vô vụ lợi. Tôi đã từng góp ý cho một số dự án lớn cho viễn thông và bảo mật của VN. Tôi đã từng góp ý và tư vấn cho hàng loạt các trang web "lề trái" cũng như "lề phải". Tất cả chỉ vì 1 tiêu chí duy nhất: give it a fair go (hãy cho nó một cơ hội công bằng). Tôi không phân biệt "lề" (trái hay phải) khi tôi giúp đỡ một ai đó khi họ thật sự cần giúp đỡ.
3. Trách nhiệm của tôi đối với HVA:
Đối với tôi, anh em ở HVA là những anh em thân thiết mà tôi đã chia sẻ nhiều thời gian và tình cảm trong một thời gian khá dài. Bởi vậy, tôi có trách nhiệm phải phân tích và công bố những thông tin cần thiết để tránh ngộ nhận. Tôi không có ý định "phản biện" hoặc cải chính với nhóm người đang thực hiện những hành động không những phi pháp mà còn phi đạo đức kia. Tôi thành thật xin lỗi anh em vì đã tắc trách và để xảy ra chuyện như thế này.
Xin xác định rõ, HVA là một diễn đàn phi lợi nhuận và hoạt động hoàn toàn dựa trên căn bản tự nguyện. Tôi tự nguyện tham gia HVA từ năm 2004 và tôi cũng tự nguyện chấp nhận làm administrator năm ấy sau khi được ban quản trị đề nghị và chấp thuận. Bởi thế, tôi trực tiếp chịu trách nhiệm với BQT HVA và nhóm quản trị sẽ quyết định việc tôi có tiếp tục sinh hoạt và làm admin cho diễn đàn HVA hay không.
Những ý kiến đề nghị tôi nên "từ chức" là những ý kiến cần thiết và hữu lý. Chính tôi đã đề đạt việc này với BQT HVA và quyết định cuối cùng là ở BQT HVA.
4. Tôi và postmodernism của x-cafe có quan hệ thế nào?
Tôi xin nhắc lại một lần nữa, tôi không phải là postmodernism của x-cafe. Tôi biết postmodernism qua sinh hoạt kỹ thuật trên mạng. Anh ta cũng ở Úc và cũng là một IT engineer. Anh ta làm quen tôi vì theo lời anh ấy, anh ấy cảm mến thái độ chia sẻ và kinh nghiệm kỹ thuật của tôi.
Postmodernism bắt đầu sinh hoạt trên x-cafe trước tôi hơn một năm. Tôi không đăng ký nick trên x-cafe mãi cho đến đầu 2009 (do một thành viên HVA giới thiệu). Trước đó, tôi "tư vấn từ xa" cho postmodernism những biện pháp chống DDoS khi x-cafe bị tấn công triền miên (bởi vì tôi cám cảnh nhớ lại thời gian HVA cũng bị quái nạn ấy một thời gian rất dài).
Sau khi x-cafe bị hack vào tháng 2 năm 2010, đám hacker kia tìm thấy một số thông tin có liên quan đến cái tên Hoàng Ngọc Diêu và đồ đoán rằng tôi là postmodernism nên cố bịa đặt và gán ghép những thông tin không có thật để ghép tôi và postmodernism kia là một. Trong đó, ngoài những chi tiết kỹ thuật bịa đặt và gán ghép, họ dùng một chi tiết mang màu sắc chính trị đó là việc tôi về VN để dự "đại hội việt kiều" và lôi anh tôi, gia đình tôi vô trò chơi bẩn thỉu này (kể cả việc đánh cắp hình riêng tư của gia đình tôi mà tôi đã đưa vô trang facebook). Sau khi tôi trả lời bài phỏng vấn của đài RFA và gởi một bài xác định chi tiết tôi không về dự "đại hội việt kiều" trên talawas.org, đám hacker này bị thất bại vì dư luận đã không còn tin họ. Tuy vậy, họ vẫn không từ bỏ ý định và vẫn tiếp tục tìm mọi cách để khai thác và "chứng minh" với dư luận rằng tôi chính là postmodernism.
Từ khi x-cafe bị hack vào tháng 2 năm 2010, tôi chính thức tham gia giúp x-cafe chuyện kỹ thuật, có nghĩa là tôi có quyền truy cập vào máy chủ của họ. Postmodernism của x-cafe hoàn toàn chuyển giao hết tất cả thông tin cần thiết để tôi "take over", kể cả hòm thư liên lạc của anh ta. Postmodernism chỉ giữ lại cái nick trên x-cafe và không còn là admin kỹ thuật của diễn đàn ấy nữa. Bởi thế, tôi, Hoàng Ngọc Diêu (conmale) đã bắt đầu trực tiếp phụ giúp chuyện kỹ thuật cho diễn đàn x-cafevn.org và danluan.org từ giữa tháng 2 năm 2010 và sử những phương tiện liên lạc của postmodernism có sẵn từ trước (ngoại trừ account đăng nhập của postmodernism trên x-cafevn.org). Trước tháng 2 năm 2010, trước khi x-cafevn.org bị tấn công lần thứ nhất, tôi có vài lần sử dụng account của postmodernism trên x-cafevn.org để trao đổi một số chi tiết kỹ thuật với ban quản trị diễn đàn x-cafevn.org (tất nhiên là có sự đồng ý của postmodernism). Điều này không có nghĩa tôi là postmodernism của x-cafevn.org.
5. Chuyện gì đã xảy ra gần đây?
Từ trước đến nay, tôi dùng một laptop riêng chạy Linux cho mọi sinh hoạt trên mạng. Không may, khoảng giữa tháng 8, chiếc laptop này bị hư đĩa cứng và tôi tạm dùng laptop chạy Windows do công ty cung cấp. Khoảng 18, 19 và 20 tháng 8 năm 2010, tôi có vô YIM để chat vài lần và có nhận một số mail (có vẻ vô hại) và không hề có tập tin đính kèm nhưng không hiểu sao máy tôi bị dính trojan backdoor mà chương trình chống virus / trojan của Symantec không hề phát hiện (mặc dù chương trình này được công ty cập nhật hàng ngày). Bản thân tôi không nhận ra gì bất thường và tôi công nhận đây là thiếu sót to lớn của tôi.
Trong khoảng thời gian này, có lẽ một số thông tin trên chiếc laptop chạy Windows này đã bị đánh cắp mà tôi không hề biết. Có thể họ đã đánh cắp được thông tin đăng nhập vô domain registra của tên miền tienve.org nên họ đã dùng nó để "xoá" tên miền này vào ngày 20 tháng 8 năm 2010. Sau đó hai ngày, họ tiếp tục dùng password đã đánh cắp để chuyển tên miền hvaonline.net đi nơi khác.
Sáng sớm ngày 23 tháng 8, có nghĩa là khuya ngày 22 tháng 8 năm 2010 giờ VN, họ dùng password đã đánh cắp được để đăng nhập vô firewall chạy trên Linux ở nhà riêng của tôi và từ đó họ thâm nhập vô máy chủ của tienve.org có host chung HVA và vninformatics.com (của Nguyễn Bá Thành). Đồng thời họ cũng dùng phương tiện này để dễ dàng đi vào máy chủ talawas.org và x-cafevn.org / danluan.org (trang web talawas.org tôi đã đồng ý phụ giúp kỹ thuật cho họ và trực tiếp đăng nhập vô hệ thống máy chủ của họ từ cuối tháng 1 năm 2010 do sự đề nghị và giới thiệu của anh ruột tôi).
Họ vô được máy chủ của tienve.org / hvaonline.net nhưng không làm được gì nhiều vì họ không thể làm gì với tài khoản đăng nhập của tôi. Bởi vậy, họ copy 1 bản lưu mới nhất của HVA DB và tienve DB từ trên linux firewall ở nhà tôi và bởi vậy, họ mới có thông tin để "đăng" trên trang của họ mà mọi người đang thắc mắc. Trên máy chủ của talawas.org và x-cafevn.org, họ có chủ quyền cao hơn nên đã tàn phá trầm trọng hơn bằng cách xoá bỏ hàng loạt thông tin trước khi đăng thông điệp defacing.
Thật sự họ không thể thâm nhập trực tiếp các hệ thống trên bởi vì tôi tin chắc họ không có điểm nào để "gain entry" trực tiếp. Bởi vậy, họ tìm cách cài trojan vào máy cá nhân tôi để gain entry từ ngõ này. Thông tin về thành viên HVA được đăng trên trang của họ không phải là thông tin họ trực tiếp lấy được từ máy chủ của HVA.
6. Họ là ai?
Cho đến nay tôi vẫn chưa thể xác định cụ thể họ là ai. Tuy vậy, tôi không nghĩ họ là những "du học sinh" bởi vì nhóm này làm việc có tổ chức và chứng tỏ có nguồn tài chính và thời gian không nhỏ. Bằng chứng là họ có hàng loạt các shared hosts, domain names, UNIX shell accounts... trải dài từ Mỹ sang Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc, Nam Hàn và Hồng Kông. Theo thông tin tôi thu thập được, những biến cố xảy ra trải dài xuyên nhiều múi giờ trên thế giới từ nhiều điểm khác nhau chứng tỏ đây không phải là hoạt động đơn lẻ và tự phát.
Họ tỏ vẻ rất chuyên nghiệp và tinh vi trong việc sử dụng và phát tán viruses / trojans. Các trang web bị họ defaced thường lưu lại một dạng mã độc nào đó nhằm tiếp tục thu thập nạn nhân. Những lần tấn công hầu hết họ sử dụng phương tiện đánh cắp mật khẩu nhờ trojans thay vì trực tiếp khai thác trên mục tiêu. Các tên miền họ chiếm đoạt được hầu hết được đưa về registra ở HK và registra này nổi tiếng tàng trữ và bao che cho các hoạt động phi pháp trên mạng (như phát tán malware, thẻ tín dụng phi pháp, nguồn botnets...). Những thao tác của họ trên linux firewall cá nhân của tôi cho thấy họ không có quá nhiều kinh nghiệm trên *nix nhưng đủ để tạo phương hại. Ngược lại, họ đã và đang tiếp tục sử dụng những malware để tiếp tục khai thác và tấn công những mục tiêu họ đã định sẵn.
7. Tại sao họ tấn công tôi?
Tôi đang cố gắng tìm ra câu trả lời xác thực cho câu hỏi này. Nếu nói đây là một hành vi trả thù cá nhân thì quả là khó hiểu vì tôi không tìm ra bất cứ lý do nào hoặc chuyện gì trong quá khứ tôi đã làm khiến tôi bị trở thành "kẻ thù" của họ như vậy. Nếu cho rằng tôi khắc nghiệt hay khó tính trên diễn đàn HVA này khiến cho họ ghét thì cũng không hợp lý vì sự khó tính của tôi cũng chẳng nghiêm trọng đến độ một tổ chức có nhiều tài nguyên (thời gian, tiền bạc, phương tiện) như thế phải đổ dồn vô khai thác và tấn công tôi vì tôi không được "nice" trên một diễn đàn ảo nào đó.
Một lý do khác có vẻ hữu lý hơn là tôi có thể có một ít ảnh hưởng nào đó đến một số anh em nào đó yêu thích ngành CNTT hoặc bảo mật và đây là điều "không có lợi" nếu như tôi dùng đó để "tuyên truyền" hoặc "xuyên tạc" cái gì đó không có lợi cho chính quyền. Nếu quả thật như vậy thì sự việc không còn đơn giản nữa. Cũng có thể họ thấy tôi ra tay giúp những trang web "lề trái" khiến cho những trang "lề trái" này vẫn tiếp tục tồn tại là điều "không có lợi" cho nên họ phải là sao đó để triệt hạ tôi.
Tôi cũng đã nhận không ít các mail nặc danhh mang tính đe doạ ở nhiều cấp độ khác nhau (ví dụ như về VN sẽ rầy rà hoặc không được về VN....). Những sự việc như thế khiến tôi không dám nghĩ rằng đây là một nhóm các "du học sinh yêu nước" nào đó đang bảo vệ nhà nước mà ra tay. Những sự việc ấy càng làm tôi chán ghét những động thái phi pháp và phi đạo đức. Nếu họ tin rằng họ đang làm những việc như thế để bảo vệ cái gì đó tốt đẹp nhất thì cái "tốt đẹp nhất" ấy cũng không còn tí giá trị nào hết bởi vì chúng dựa trên căn bản dối trá, nặc danh và bôi nhọ.
8. Những thiệt hại:
Có lẽ thiệt hại đáng kể mà họ tạo ra ở đây là tạo ra một hình ảnh conmale 'phản động' và quan trọng hơn nữa, conmale hiện là một trong những admins của diễn đàn HVA, một diễn đàn hacker "lớn nhất và có uy tín nhất VN". Kế tiếp, họ tạo hoang mang cho không ít thành viên và những người lui tới diễn đàn HVA bởi vì chẳng mấy ai biết được thực hư như thế nào. Điều tệ hại nhất mà họ tạo ra là họ không tìm được conmale làm những gì phương hại đạo đức hay sai quấy nên họ phải chụp cho conmale cái mũ "phản động" để gián tiếp làm cho HVA phải chao đảo.
Lần tấn công trước, những việc làm của họ được dư luận để ý đến bởi vì chúng mới mẻ và kích thích không ít kẻ tò mò. Tuy vậy, sự việc đã bị chìm xuống vì chính bản thân họ, những kẻ hoàn toàn dấu mặt, không thể tranh thủ được dư luận do họ không có chính danh (dấu mặt thì không thể nào chính danh được). Hơn nữa, những thông tin họ đưa ra đầy dẫy tự mâu thuẫn nhau (ví dụ, lần trước, tôi "thân cộng sản". Lần này, tôi "chống cộng sản"). Vì không tranh thủ được dư luận rộng rãi, họ chuyển sang "khai thác" trực tiếp HVA. Trước mắt, trên diễn đàn HVA này có không ít những thành viên dẫu chưa nắm được sự thể như thế nào đã mạnh mẽ lên tiếng chỉ trích tôi "là kẻ hai mặt". Đây là thành công của nhóm người đang tạo ra thiệt hại.
9. Tôi nghĩ thế nào về họ và việc này?
Những thông tin họ gán ghép về tôi không được nhất quán từ đầu đến cuối. Khi thì họ bảo rằng tôi "thân cộng sản" khi thì họ cho rằng tôi trợ lực bọn "chống phá nhà nước". Đây là điều khó hiểu nhưng một điều tôi có thể hiểu được rằng họ muốn phá hỏng uy tín của một người có cái nick là conmale và có tên thật là Hoàng Ngọc Diêu. Họ cho rằng vì tôi trợ giúp kỹ thuật những người "chống phá nhà nước" cho nên tôi nghiễm nhiên trở thành tên "phản động". Đây là một trò chơi khá bẩn vì nó không dựa trên đối thoại hoặc lý luận thẳng thắn mà dựa trên những hành động phi pháp nối tiếp với những trò gán ghép và bôi nhọ một cách khá hèn hạ (bởi vì chính họ đòi phản biện và đòi tôi phải "bạch hoá" trong khi họ lẩn trốn và làm những hành động phi pháp). Thật sự tôi chẳng có gì phải "bạch hoá" hết. Tôi, Hoàng Ngọc Diêu, có nickname là conmale trên diễn đàn hvaonline.net, trên diễn đàn vnoss.org, trên diễn đàn vnsecurity.net và nickname hnd trên diễn đàn vninformatics.com. Tôi cũng có nickname trên x-cafevn.org, trên danluan.org và trên talawas.org và đó là chuyện của cá nhân tôi. Không có ai, kể cả những người sinh thành ra tôi buộc tôi phải "bạch hoá" những chuyện riêng tư của tôi.
Tôi không biết họ là ai nhưng họ đang làm những việc cực kỳ hư hại và tạo ra những bất lợi không nhỏ cho nhà nước VN. Xin nói thêm, nguồn virus và trojan được phát tán mà google và mcAfee đã lên tiếng hồi đầu năm 2010 có những dấu hiện do nhóm này phát tán hoặc ít nhất họ sử dụng lại. Trên mặt nổi, những việc làm này sẽ tạo những bất lợi không nhỏ cho VN, vốn là quốc gia đã bị "ban" gần như hoàn toàn trên bình diện mua bán trên mạng. Trên 90% IP của VN bị blacklisted trên các RBL của thế giới. Trên 99% các transaction từ VN bị từ chối. Tệ hại hơn hết, những việc họ làm ở đây có những biểu hiện khiến cho dư luận dễ dàng kết luận rằng có bàn tay quyền lực nhúng vào. Họ cho rằng họ đang bảo vệ nước CHXNCNVN nhưng họ đang nhân danh những người "bảo vệ chế độ" để thực hiện những hành động mà xét ra, ngay cả đối với luật pháp của nước CHXNCNVN đều là những hành động phi pháp.
Bản thân tôi không thể chấp nhận bất cứ hành động phi pháp và bóp nghẹt nào. Nếu đám người "lề trái" cần nói, cứ để họ nói và cứ để cho dư luận phán xét. Họ có đúng hay sai đi chăng nữa, họ vẫn có quyền nói lên ý kiến của họ. Hơn nữa, trong suốt vài năm qua, những trang web lề trái đối diện với một lực lượng phá hoại không nhỏ và đây là một "cuộc chiến" không cân sức, không công bằng và không sạch sẽ. Những kẻ "lề trái" muốn nói kia không hề có khả năng kỹ thuât và khả năng tự bảo vệ họ. Một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh phải khởi đầu từ những biểu hiện và động thái nhỏ nhất của tinh thần ấy. Nếu tôi, conmale, nhân danh sự công bằng và trong sáng, là người giúp đỡ những kẻ thất thế kia nghiễm nhiên trở thành "kẻ phản động" thì.... so be it. Tôi không có ý định đi theo "lề" nào hết và càng không vì những lời đe doạ, những sự phá hoại như vậy mà khiến tôi trở thành một kẻ vứt bỏ đi tinh thần chuộng công bằng và sự thật. Các bạn nên cẩn thận mà tự xét khía cạnh đạo đức của vấn đề ở đây. Nếu các bạn tin rằng việc dấu mặt để thực hiện hàng loạt những hành động phi pháp đó là việc đáng cổ vũ (vì đó là hành động "bảo vệ tổ quốc") thì có nghĩa các bạn đang trực tiếp cổ suý cho dạng đạo đức chấp nhận những hành động phi pháp, phi đạo đức là những hành động tốt đẹp. Tùy các bạn chọn lựa.
Tôi xin xác định rất rõ rằng, trong suốt thời gian qua, những gì tôi đóng góp, chia sẻ về kỹ thuật về kinh nghiệm công việc ở diễn đàn này (cũng như một số diễn đàn khác) là vì tôi là người Việt Nam và tôi muốn chia sẻ với người Việt Nam. Những việc làm ấy không nên đánh đồng với thái độ ủng hộ một quan điểm chính trị nào hết. Xin đừng nên quá sa đà vào việc phán xét tôi, Hoàng Ngọc Diêu (conmale), là người có những giúp đỡ kỹ thuật cho một số diễn đàn "lề trái" là một kẻ "phản động" hoặc thậm chí "bán nước". Xin đừng đánh đồng một thể chế chính trị với một đất nước. Nước VN đã qua ngàn năm lịch sử và đã có hàng ngàn thể chế chính trị. Những thế chế ấy đã mất đi nhưng đất nước vẫn còn. Thể chế chính trị không phải là đất nước.
Có thể có một số anh em có thể không đồng quan điểm với tôi về sự công bằng và trong sáng ở đây và tôi không có ý định thuyết phục anh em. Tôi chỉ muốn nói rằng, conmale vẫn là một người chuyên kỹ thuật, vẫn sẵn sàng giúp đỡ những ai cần giúp đỡ và sẵn sàng mang tiếng "phản động" để gìn giữ tinh thần "công bằng, dân chủ và văn minh".
Vài chia sẻ để anh em rõ.
Conmale.
Tuesday, August 3, 2010
Giải quyết sự cố ...
Vừa qua, trong quá trình thực hiện penetration test hàng năm cho hệ thống khảo giá của chúng ta, một số lỗi nghiêm trọng được tìm thấy trong cơ chế xác thực danh tính và gán quyền cho tài khoản. Những lỗi bảo mật này đã được cảnh báo đến công ty cung cấp phần mềm. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu, họ cho biết họ không thể giúp được gì vì cách khai triển đi ra ngoài giới hạn và đề nghị của họ. Nếu muốn họ giúp, cơ chế này phải được thay đổi theo thiết kế họ đưa ra và chi phí của việc làm này sẽ không nhỏ. Trở ngại lớn nhất ở đây là vấn đề thời gian vì tháng sau công ty phải ra mắt một sản phẩm mới trên hệ thống khảo giá. Quy trình thay đổi và kiểm nghiệm cơ chế xác thực danh tính và gán quyền này cần ít nhất là hai tháng để thực hiện và không có cách gì rút ngắn lại được bởi vì nó đòi hỏi phải điều chỉnh lại mã nguồn và thiết kế lại cơ sở hạ tầng liên quan đến cơ chế này.
Sau khi xong cuộc họp, tay "Problem Manager" liền triệu tập một cuộc họp thứ nhì để hình thành một cái gọi là "collaboration team". Nhóm này bao gồm đại diện của tất cả các tầng kỹ thuật (như network, security, middleware, DBA, midrange, developers, testers...). Nhóm này được tạo ra nhằm mục đích hình thành một "white boarding session" (nhóm tập họp lại trong một phòng họp có bảng trắng) để đưa ra tất cả các giải pháp có thể nghĩ ra được.
Sau khi mười mấy "giải pháp" được đưa ra, từ ngớ ngẩn nhất (vì không đủ thời gian và tiền bạc để thực hiện) cho đến khả thi nhất được hình thành, tất cả thành viên của nhóm đi xuyên qua giai đoạn thẩm định (assessment) và cho điểm mỗi giải pháp (với thang điểm từ 1 đến 10 chẳng hạn với 1 là ít khả thi và 10 là khả thi nhất). Bốn giải pháp có điểm cao nhất được chọn ra để đi đến chỗ "cãi lộn" nhằm chọn ra hai giải pháp khả thi nhất cho ngắn hạn và dài hạn (nên nhớ, nhóm này toàn là những tay nắm vững các tầng kỹ thuật chớ không lơ tơ mơ).
Sau khi hình thành khung của giải pháp, nhóm bắt tay vô thực thi ngay. Bởi vì các thành viên của nhóm có quyền thay đổi và điều chỉnh ở khu vực kỹ thuật của mình nên cần thực thi ở bất cứ tầng nào cũng xảy ra nhanh chóng (chớ không còn chờ đợi được thực thi như hoàn cảnh bình thường nữa). Mỗi lần thực thi như vậy được xem là đi xuyên qua 1 "iteration" (1 vòng). Công ty anh áp dụng "agile principle" nên tất cả quy trình thảo luận và thực thi xảy ra rất nhanh. Thậm chí, kéo nhau vô phòng họp, mỗi đứa mang theo laptop của mình và thực hiện ngay tại chỗ các thay đổi (tất nhiên chỉ thực hiện trên hệ thống thử nghiệm chớ không phải trên hệ thống production đang hoạt động).
Problem Manager có trách nhiệm thu thập các ghi chú kỹ thuật của từng cá nhân trong nhóm để hình thành "action plan" cho production system sau này và mỗi cá nhân phải có trách nhiệm tự "take notes" và viết tài liệu chuyên biệt cho phạm vi của mình. Xuyên qua mỗi iteration, những thiếu sót hoặc những chi tiết chưa hoàn chỉnh phải được điều chỉnh cho hoàn chỉnh.
Kết quả, giải pháp được áp dụng vào hệ thống production trước thời hạn 1 tuần. Giải pháp ngắn hạn, rẻ tiền nhất và nhanh nhất đã được chọn là thay thế hai con IBM HTTP server chạy trên AIX bằng hai con RHEL 5.x chạy trên 2 virtual machine (vmware) và Apache 2.2.x được cài với mod_security để áp dụng cản lọc nhờ khả năng "transformation" của nó. Giải pháp dài hạn là coding lại application để tiếp nhận và kiểm soát giá trị của cookies / sessions một cách chặt chẽ trước khi "xi nhan" cơ chế authentication / authorisation cho phép xuất truy cập tiếp tục. Chi tiết kỹ thuật thì khá phức tạp bởi vì một application có thể có nhiều "context" và mỗi context trỏ đến một hệ thống khác nhau có chức năng và thông tin khác nhau. Để các hệ thống A, B, C, D.... đều bảo đảm user session X là có giá trị thì chúng phải thông tin và kiểm chứng với nhau dựa trên các điều kiện bảo mật cụ thể.
Điều cần nói ở đây là cách tổ chức và xử lý vấn đề của từng tổ chức doanh nghiệp có thể khác nhau. Nếu sự cố được đưa ra vẫn không khắc phục và kỳ hạn phải tung ra một sản phẩm mới không thể thay đổi được (vì nó quyết định thắng thua bạc triệu) thì bằng mọi cách phải khắc phục. Nếu không khắc phục mà một khách hàng nào bị "dính chấu" thì coi như sản phẩm và chiến dịch ấy hỏng bét. Uy tín của cty cũng trôi xuống sông, xuống biển. Việc hình thành một nhóm "response" để làm việc dedicated và liên tục trong 3 tuần là việc không đơn giản vì chi phí không nhỏ. Tuy nhiên, nếu xét thấy chi phí này chiếm một tỉ lệ không lớn so với doanh thu (theo dự tính) thì không có lý do gì mà không tiến hành hết.
Tuesday, July 20, 2010
The hierarchy of success
I think it looks like this:
- Attitude
- Approach
- Goals
- Strategy
- Tactics
- Execution
We spend all our time on execution. Use this word instead of that one. This web host. That color. This material or that frequency of mailing.
Big news: No one ever succeeded because of execution tactics learned from a Dummies book.
Tactics tell you what to execute. They're important, but dwarfed by strategy. Strategy determines which tactics might work.
But what's the point of a strategy if your goals aren't clear, or contradict?
Which leads the first two, the two we almost never hear about.
Approach determines how you look at the project (or your career). Do you read a lot of books? Ask a lot of questions? Use science and testing or go with your hunches? Are you imperious? A lifehacker? When was the last time you admitted an error and made a dramatic course correction? Most everyone has a style, and if you pick the wrong one, then all the strategy, tactics and execution in the world won't work nearly as well.
As far as I'm concerned, the most important of all, the top of the hierarchy is attitude. Why are you doing this at all? What's your bias in dealing with people and problems?
Some more questions:
- How do you deal with failure?
- When will you quit?
- How do you treat competitors?
- What personality are you looking for in the people you hire?
- What's it like to work for you? Why? Is that a deliberate choice?
- What sort of decisions do you make when no one is looking?
Sure, you can start at the bottom by focusing on execution and credentials. Reading a typical blog (or going to a typical school for 16 years), it seems like that's what you're supposed to do. What a waste.
Isn't it odd that these six questions are so important and yet we almost never talk or write about them?
If the top of the hierarchy is messed up, no amount of brilliant tactics or execution is going to help you at all.
Tuesday, June 8, 2010
Phần thưởng nào dành cho người làm bảo mật?
Nên đọc bài này nếu bạn có ước muốn trở thành chuyên gia bảo mật:
One of the problems with the field of Information Security, particularly secure application development, is that it is not an inherently rewarding practice. Development is a rewarding practice when you add new functionality, or make existing processes easier to use or more efficient.Đây chính xác là những gì tôi cảm nhận được sau hơn hai năm làm việc như một người gác cổng. Nếu cho rằng sự tín nhiệm của sếp và lương bổng là phần thưởng lớn nhất của một người đi làm thuê thì chắc chắn rằng phần thưởng của tôi phần nhiều không đến từ công tác bảo mật. Bảo mật là một công tác quan trọng, sếp của tôi hiểu điều đó nhưng rõ ràng những gì mà công tác này đem lại cho công ty là hết sức mơ hồ. Tôi đã ngăn chặn được bao nhiêu vụ tấn công? Mỗi vụ tấn công đó nếu xảy ra sẽ làm cho công ty mất bao nhiêu tiền? Thật khó mà đưa ra một con số cụ thể.
The really dangerous part of this lack of reward is that hacking is inherently rewarding for those with that mindset. I've told co-workers many times that if I didn't really have a concern with the legality or the morality of it, (we won't get into whether Robin Hood was virtuous or not), I would probably want to be a hacker. In a development world, or even in support of a development world, you're driven by project deadlines and feature sets that the users covet. Security is (generally) an afterthought. In the black hat world, unless you're being directly paid for something you're supposed to produce ultimately, you're driven by your own creativity and your own ability to come up with an effective attack, and to do so without being caught, and before everybody else does.
To me, the second sounds very rewarding. In the former, you're paid to implement somebody else's creativity, and on their timeline, etc. In the latter, you're driven by the good idea. - new and crazy ideas are rewarded, not dismissed.
Nếu ta chia nhỏ người làm bảo mật ra hai nhóm, nhóm chuyên thực hiện công tác bảo vệ và nhóm chuyên thực hiện công tác tấn công, thì công việc của nhóm đầu cũng không đem lại nhiều pleasure như công việc của nhóm sau. Ví dụ như triển khai mod_security sẽ không hấp dẫn bằng việc tìm và khai thác XSS, CSRF hay SQL Injection. Hay triển khai SELinux sẽ không thú vị bằng việc phát hiện và khai thác lỗi tràn bộ đệm trong một phần mềm mà công ti bạn đang sử dụng hoặc phát triển. Nhóm tấn công cũng dễ có nhiều credit hơn là nhóm bảo vệ, bởi lẽ họ chứng minh được hiệu quả thực tế công việc của họ (bằng cách tìm ra lỗi và khai thác chúng). Tôi kiêm nhiệm luôn hai công việc này và kinh nghiệm cho thấy sếp quan tâm đến những lỗ hổng mà tôi tìm thấy hơn là những giải pháp mà tôi sẽ triển khai để đề phòng các tấn công sẽ xảy ra (hoặc không bao giờ xảy ra).
Trong thực tế, phần thưởng của tôi phần nhiều đến từ những dự án hoàn toàn không liên quan gì đến bảo mật. Đó là những dự án xây dựng và triển khai hệ thống thông tin, những dự án tạo ra được một kết quả cụ thể mà sếp và sếp của sếp có thể thấy được. Đây cũng là điều dễ hiểu, nó cho thấy quan điểm bảo mật là một vấn đề kinh tế của Bruce Schneier là hoàn toàn có cơ sở. Nếu sếp tôi chỉ trả tiền để tôi bảo vệ những hệ thống có quá nhiều lỗ hổng, rõ ràng sếp tôi chỉ đang làm giảm nhẹ cái risk của công ti hơn là giải quyết vấn đề thực sự: xây dựng được hệ thống an toàn ngay từ đầu. Đây mới chính là nhiệm vụ của người làm bảo mật. Bảo mật không thể là một qui trình đi sau qui trình phát triển sản phẩm hay xây dựng hệ thống, bảo mật phải diễn ra song hành cùng các qui trình này. Nghĩa là bạn, một chuyên gia bảo mật, phải giúp cho sếp của bạn xây dựng được những hệ thống thông tin an toàn, hiệu quả và kinh tế ngay từ đầu. Lúc đó khả năng của bạn mới được phát huy tối đa và lẽ dĩ nhiên, phần thưởng của bạn cũng sẽ rất xứng đáng.
-Thái
Thursday, June 3, 2010
Phát triển khả năng tư duy
Những năm đầu đi làm, anh rất ngỡ ngàng vì tay sếp chỉ đưa ra "problem" và chỉ cung cấp phương tiện để mình giải quyết "problem" chớ không bao giờ đưa ra phương án hoặc quy trình hoặc hướng dẫn nào hết. Trên thực tế, nếu muốn giải quyết "problem" mình cần phải có khả năng hiểu "problem" đó là gì và sau đó mình phải có khả năng xác định biên độ của "problem" và những điểm liên quan trực tiếp của "problem". Sau khi làm quen với việc phân tích và xác định "problem" để đi đến việc hình thành biện pháp (hoặc giải pháp) để khắc phục "problem", tự nhiên mình đào luyện cho mình khả năng tư duy. Khả năng tư duy càng nhạy bén thì giai đoạn tìm hiểu và xác định giải pháp cho trở ngại càng nhanh và càng chính xác.
Khi đi làm, mình không thể đến một ông sếp và nói "em bị problem này, anh chỉ em cách giải quyết với" được bởi vì giải quyết problem là chuyện của mình, là trách nhiệm trực tiếp của mình (vì mình ăn lương để làm việc). Nếu sếp của mình là người tốt bụng và đồng sự của mình là những người khoáng đạt, họ có thể góp ý hoặc hướng dẫn mình những điểm sơ khởi. Tuy nhiên, mình phải là người trực tiếp làm chủ và chịu trách nhiệm với việc giải quyết "problem" chớ không ai khác hết. Tư duy và dấn thân để đào luyện khả năng tư duy là phương tiện duy nhất giúp mình phát triển và thành công trong công việc.
Nói cho cùng, các thảo luận trên một diễn đàn kỹ thuật như HVA để làm gì? Tất nhiên là để giải quyết trở ngại nào đó. Nếu người thảo luận là những sinh viên đang đi học cần trợ giúp nào đó, thảo luận giúp định hướng và giúp phương pháp giải quyết. Tuy nhiên, cuối cùng sinh viên ấy cũng phải đi làm và phải đối diện với vô số "problem". Lúc ấy, nếu không trang bị cho mình khả năng tư duy đúng mức, chẳng có "forum" nào bên cạnh để giúp mình hết và chắc chắn cá nhân ấy sẽ không thể thành công và đi xa trong công việc được. Riêng với mảng security và exploitation, khả năng tư duy là phẩm chất không thể thiếu nếu muốn dấn thân. Muốn bảo mật cái gì đó phải hiểu rõ nó là cái gì và hoạt động ra sao. Tương tự, muốn exploit một cái gì đó cũng phải hiểu rõ nó là cái gì và hoạt động ra sao. Việc "hiểu rõ" này chính là kết quả của quá trình tư duy.
Sách vở, bài viết, thảo luận trên diễn đàn.... là chất liệu, khả năng tư duy là chất kết nối và điều kiện biến chất liệu thành kết quả nào đó. Tìm được câu trả lời trên diễn đàn (chẳng hạn) chỉ mới dừng lại ở mức độ tìm ra chất liệu, hành động biến chất liệu ấy thành sản phẩm là một việc hoàn toàn khác và phụ thuộc hoàn toàn ở từng cá nhân. Bởi vậy, đừng dừng lại ở chỗ "tìm chất liệu" mà nên đi đến chỗ "tạo sản phẩm" sau khi có chất liệu.
