Showing posts with label Giải Trí. Show all posts
Showing posts with label Giải Trí. Show all posts

Thursday, September 22, 2016

Rượu trong tiểu thuyết Kim Dung


Núi hùng vĩ điệp trùng, cao phong tiếu bích vươn đến trời xanh, nhưng núi đẹp là nhờ mây. Sông mênh mông bát ngát, uốn khúc lượn lờ hay cuồng nộ thét gầm, nhưng sông linh là nhờ có giao long, thủy quái. Rừng bạt ngàn huyền bí nhưng rừng thâm u quyến rũ là nhờ có dị sĩ cao nhân. Khách hảo hán giang hồ phiêu bồng lang bạt mang bản chất hào sảng khoáng đạt một phần là nhờ rượu.
Văn học Trung quốc qua bao thời đại không thiếu thơ văn ca ngợi rượu. Thậm chí rất nhiều.
Thông thường người ta chia ra làm ba cách uống rượu: tục tửu, thường tửu và tiên tửu. Tục tửu là uống đến chỗ phóng đãng bừa bãi, không làm chủ được mình. Thường tửu là uống xong cho sảng khoái, uống chỉ vì thích uống mà thôi. Tiên tửu là uống rượu như một thứ trợ hứng để bàn về thi ca, nghệ thuật nhằm di dưỡng tinh thần. Đến Kim Dung thì chén rượu lại được điểm xuyến thêm một phần ý vị nữa: đó là chén rượu lãng mạn hào hùng giữa chốn giang hồ.
Đối với cuộc sống rong ruỗi phiêu bạt của khách võ lâm, có thể trong buổi tiễn đưa hoặc buổi trùng lai thiếu tiếng đàn tiếng hát nhưng chắc chắn trong nỗi buồn li biệt hay trong niềm vui hội ngộ đó luôn luôn có rượu. Chung quanh chén rượu và ngay trong chén rượu có biết bao nhiêu tâm sự của muôn vạn mãnh đời. Khắp võ lâm, từ trà đình tửu quán cho đến chốn núi thẳm rừng sâu, hễ nơi đâu có mặt hảo hán giang hồ là y như nơi đó có rượu.
Một điều đáng ghi nhận là trong tác phẩm Kim Dung, hầu như những nhân vật nào đam mê rượu cũng đều có tâm hồn hào sảng, phóng khoáng. Đó là một Tiêu Phong kiêu dũng, một Hồng Thất Công cương trực, một Lệnh Hồ Xung khoáng đạt, một Đan Thanh hào phóng .v.v… Bang chủ Hồng Thất Công do tính ham rượu và nhậu nhẹt nên bị Hoàng Dung dùng mẹo lừa để ông phải truyền tuyệt kĩ “Hàng long thập bát chưởng” cho Quách Tĩnh. Đoàn Dự khi lang bạt giang hồ tìm Vương Ngọc Yến, thấy Tiêu Phong ngồi uống rượu trên Tùng hạc lâu mà sinh cảm mến, cùng nhau uống rượu rồi kết làm huynh đệ. Đó là cách uống rượu hào sảng của khách anh hùng. Đoàn Dự dùng Thiếu trạch kiếm để tiết hết rượu ra khỏi người theo đầu ngón tay út mới có thể đối ẩm với “đại tửu lâm cao thủ “ là Tiêu Phong. Đó là cách uống rượu đầy tiểu xảo mà Đoàn Dự vô tình phát hiện.
Nếu chén rượu đầy mưu trí của Lệnh Hồ Xung trên Trích Tiên tửu lâu khi lừa Điền Bá Quang để cứu Nghi Lâm làm người đọc vừa buồn cười vừa thán phục thì chén rượu thương đau của gã trên đỉnh Hoa Sơn lạnh buốt lại đắm chìm trong nỗi nhớ thương cô tiểu sư muội Nhạc Linh San, làm cho người đọc ngậm ngùi. Một tên dâm tặc vô hạnh như Điền Bá Quang lại biết lẻn vào hầm rượu của Trích Tiên tửu lâu đập vỡ hết gần hai trăm vò rượu quí hiếm trên thế gian, chỉ giữ lại hai vò để mang lên đỉnh Hoa Sơn cùng đối ẩm với Lệnh Hồ Xung, đã làm cho người đọc phát sinh hảo cảm, dù gã đã bị cả hai phe hắc bạch khinh bỉ là hạng “vô ác bất tác đích dâm tặc” (tên dâm tặc không có điều ác nào mà không làm). Thử hỏi trong đời có mấy ai được uống một chén rượu chí tình đáng cảm động thế kia? Một chi tiết nhỏ đó thôi chắc cũng đủ khiến cho tửu đồ khắp thiên hạ cùng nhau nâng chén rượu tha thứ phần nào tội lỗi cho Điền Bá Quang! Đâu phải chỉ trong tiếng đàn, tiếng tiêu cao nhã mới có thể tạo nên mối đồng cảm tri âm như Khúc Dương trưởng lão và Lưu Chính Phong, mà một chén rượu đục trong chốn giang hồ vẫn đủ sức để tạo nên mối tình tri ngộ giữa một người mang tiếng bại hoại và một môn đồ phe chính giáo. Cái chân tâm trong chỗ giao tình vẫn luôn luôn nằm bên kia âm thanh cũng như luôn luôn nằm đằng sau chén rượu! Rượu hay âm nhạc lúc đó chỉ là phương tiện để con người tìm gặp nhau ở một điểm nào đó trong chổ ý hợp tâm đầu. Khi Lệnh Hồ Xung tung chén rượu lên trời thành muôn ngàn giọt để cùng chia xẻ với quần hùng hắc đạo trên đỉnh Ngũ Bá cương, Kim Dung đã cực tả tính hào sảng của một gã tửu đồ giữa niềm thống khoái chân tình với hào kiệt giang hồ. Hình ảnh kiêu hùng của Hướng Vấn Thiên khi bị trói đôi tay mà vẫn trầm tĩnh ngồi uống rượu trong lương đình giữa vòng vây của hai phe hắc bạch, đã khiến Lệnh Hồ Xung trổi dậy hào khí, liều lĩnh chen vào ngồi đối ẩm để cùng xẻ chia hoạn nạn. Người đọc không ngạc nhiên vì sao sau này, khi Giáo chủ Nhật nguyệt thần giáo Nhậm Ngã Hành thống lĩnh giáo chúng vây Hoa Sơn để tiêu diệt Ngũ nhạc kiếm phái, đẩy Lệnh Hồ Xung vào thế đối địch, thì Hướng Vấn Thiên là người đầu tiên bạo dạn cùng uống với Lệnh Hồ Xung một chén rượu cuối cùng ngay tại đương trường trước khi chuẩn bị cho một trận huyết chiến sắp tới, dù biết rõ Nhậm Ngã Hành đang ngấm ngầm phẫn nộ. Rồi lần lượt các tay hào kiệt khác trong Nhật nguyệt thần giáo cũng can đảm bước ra cạn chén với Lệnh Hồ Xung dù trong thâm tâm họ cũng hiểu rằng điều đó sẽ gây thịnh nộ cho Giáo chủ và cái giá phải trả đằng sau chén rượu kia có khi là cái chết. Biết bao nhiêu hào khí hùng tâm chứa chan trong một chén rượu nồng! Lệnh Hồ Xung kết giao hào kiệt giang hồ chủ yếu bằng rượu. Gặp bất kì người nào sành rượu và thích uống rượu là giao tình nẩy nở. Đối với Lệnh Hồ Xung dường như không có chính hay tà mà chỉ có rượu ngon hay dở và nhất là người nâng chén rượu cùng uống có đáng mặt hảo hán để giao kết hay không mà thôi. Lúc đó thì ân oán thị phi đều có thể hoà tan trong chén rượu chân tình.
Khi tình cờ bị vây hãm trên đỉnh Thiếu Thất bởi vô số những cao thủ cự phách, Tiêu Phong trong cảnh lâm vào tuyệt địa vẫn hiên ngang uống rượu. Khi đánh lùi một lúc cả ba đại cao thủ Du Thản Chi, Đinh Xuân Thu, Mộ Dung Phục, khiến Tiêu Phong hào khí ngất trời, ông hô vệ sĩ mang mấy túi rượu uống cạn một lúc gần hai mươi cân, rồi ngõ lời cùng Đoàn Dự: “Huynh đệ, ta và người hôm nay đồng sinh tử, thật không uổng phí một phen kết nghĩa, sống cũng tốt mà chết cũng tốt, chúng ta cùng nhau uống một trận cho thật thống khoái!” Hào khí bức người của Tiêu Phong khiến nhà sư Hư Trúc cảm kích quên hết giới luật thanh qui, cùng nhau cạn chén. Cảnh tượng một tay đại hào kiệt là Tiêu Phong cùng anh chàng đồ gàn Đoàn Dự và nhà sư Hư Trúc làm lễ giao bái và uống rượu ngay trong vòng gươm đao trùng điệp để chuẩn bị mở một trường đại sát thật láng lai hào khí của võ lâm, khiến cho người đọc cảm thấy hùng tâm hứng khởi như đọc Sư kí Tư Mã Thiên đến đoạn Thái tử Đan tiễn Kinh Kha qua sông Dịch. Đó không phải chén rượu liều lĩnh của bọn dũng phu cùng đường, mà là chén rượu của những tay hào tuấn xem cái chết như là “một cõi đi về” khi đã cảm nhận trọn vẹn được tấm chân tình của nghĩa đệ huynh! Sống ở nhân gian mà có được một người tri kỉ thì có chết đi cũng không đến nỗi uổng phí bình sinh!
Đáng tiếc thay, ở phương Đông, cái tạm gọi là Tửu đạo đó lại không được lịch sử phát triển thành một trào lưu như Trà đạo. Có lẽ vì nó giống như con dao hai lưỡi. Kẻ non nớt dùng nó ắt sẽ bị đứt tay. Tiên tửu chưa chắc đã thấy đâu mà tục tửu có thể đã ngập tràn trong thiên hạ! Chén rượu ngày nay đã mang quá nhiều tục sắc. Tửu vị cho dẫu đã được nâng lên thêm mấy bậc nhưng tửu đạo lại bị hạ xuống thấp mấy tầng! Giá như Tổ Thiên Thu và Đan Thanh sống lại ắt hẵn sẽ mời tất cả các tửu đồ thượng thừa trong thiên hạ đời nay tụ tập lại để giảng cho nghe về tửu đạo và cùng nhau lai rai một chén rượu giang hồ!
Tổ Thiên Thu nói rằng: dùng chén uống rượu sơ sài như vậy là chưa hiểu hết cái cao siêu trong tửu đạo. Muốn uống rượu phải nghiên cứu về chén uống rượu, rượu nào thì dùng chén ấy.
Ví như uống rượu Phần tửu phải dùng chén Ngọc Uyển. Đời Đường có câu thơ: Ngọc Uyển thành lai hổ phách quan (chén ngọc long lanh màu hổ phách) thì có thể thấy chén ngọc có thể tăng thêm màu sắc rực rỡ cho rượu.
Rượu trắng Quan Ngoại, vị rượu rất ngon nhưng đáng tiếc là chưa đủ thơm, hay nhất là dùng chén Tê giác để uống ,như vậy vị rượu mới thuần khiết không chê vào đâu được. Nên nhớ rằng Ngọc Uyển làm tăng thêm sắc rượu, chén Tê giác làm tăng thêm hương rượu, cổ nhân đã thử qua không phỉnh gạt bọn ta chút nào!
Ðến như rượu Bồ Ðào thì dĩ nhiên phải dùng đến chén hổ quang. Cổ nhân có câu thơ “Bồ Đào mỹ tửu dạ quang bôi, Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi…”. Chén dạ quang là vật trân quí hiếm trên đời. Rượu Bồ Đào đã có màu hồng mà bọn nam nhi chúng ta uống vào thì không đủ hào khí. Chén dạ quang phát ra ánh sáng mới là tuyệt diệu! Rượu Bồ Đào rót vào chén dạ quang lập tức màu rượu đỏ như huyết.
Uống rượu cũng như uống huyết. Trong bài thơ của Nhạc Vũ Mục có câu: “Tráng chí cơ xan hồ lổ nhục, Tiếu đàn khát ẩm hung nô huyết?” Chí khí của người tráng sĩ lấy thịt rợ của rợ Hồ làm cơm ăn, cười nói đến khi khát nước thi uống máu giặc Hung Nô, Như vậy có phải là hùng tráng không?
Còn thứ rượu ngon này là rượu tối cổ ngẫu nhiên có người đem cho, ngẫu nhiên mà uống. Nó là rượu cao lương. Thứ rượu này phải dùng chén “tước” đúc bằng đồng xanh mới là có ý cổ kính. Thứ gạo làm rượu này cũng là thật tốt, nó vừa ngọt vừa thơm, nên dùng thứ đấu lớn mà uống mới hợp ý rượu.
Uống Bách Thảo Mỹ Tửu phải dùng chén Cổ Đằng. Cây Cổ Đằng sống trăm năm mới đẽo thành chén, uống Bách Thảo Mỹ Tửu trong chén Cổ Đằng thì hương thơm tăng lên bội phần. Có người nói khó tìm được cây Cổ Đằng trăm năm nhưng bách niên mỹ tửu còn khó tìm hơn nữa. Nghĩ xem, cây Cổ Đằng trăm năm còn có thể tìm thấy ở vùng hoang sơn dã lĩnh nhưng bách niên mỹ tửu thì ai ai cũng muốn uống mà uống rồi thì hết. Một chén Cổ Đằng dù được uống một ngàn, vạn lần thì vẫn nguyên xi là chén Cổ Đằng.
Uống rượu Thiệu Hưng Trạng nguyên hồng phải dùng chén Dương Chi Bạch ngọc hay nhất là chén đời Bắc Tống, chén đời Nam tống thì dùng tạm được nhưng đã có khí tượng suy bại, còn chén đời Nguyên thì thì không tránh khỏi sự thô tục.
Còn rượu Lê Hoa tửu này thì phải dùng chén Phỉ Thúy. Có câu thơ của Bạch Lạc Thiên trong bài Xuân vọng rằng: “Thạch kỳ cổ tửu sấn lê hoa” (cờ xanh thêm sắc rượu hồng Lê Hoa) thử nghĩ xem, tửu quán bán Lê Hoa tửu có treo lá cờ xanh hình giọt nước xanh biếc ánh vào Lê hoa tửu cho thêm vẻ huyền bí. Uống Lê Hoa tửu phải dùng chén Phỉ Thúy chính là vậy.
Uống Ngọc Lộ tửu đương nhiên phải dùng chén Lưu Ly. Ngọc Lộ tửu sủi bọt như những hạt châu li ti, dùng chén trong suốt mà uống thì không thể chê vào đâu được… Ngoài ra, còn có chén ngà, chén răng hổ, chén da trâu, chén ống trúc..
Đọc tác phẩm Kim Dung, ta biết được người Trung Quốc có nhiều thứ rượu danh tiếng: Thiệu Hưng Nữ Nhi Hồng, Thiệu Hưng Trạng Nguyên Hồng, Trúc Diệp Thanh, Mai Quế Lộ, Bách thảo tửu, Biên Tái tửu, Hầu Nhi tửu, Bồ Đào tửu, Ngũ Gia Bì, Kim Tước tửu…
Đọc Kim Dung, ta mới biết được phong cách uống rượu của người Trung Quốc: rượu thường được hâm nóng trước khi uống, nhất là vào mùa đông. Thỉnh thoảng, trong vài tình huống đặc biệt, khi công nghiệp làm nước đá chưa ra đời, tác giả đã để cho nhân vật mình làm ra băng để uống rượu. Trong Tiếu ngạo giang hồ, có đoạn Lệnh Hồ Xung cùng Hướng Vấn Thiên tìm về Cô Mai sơn trang ở Giang Nam gặp gỡ Giang Nam tứ hữu. Để mời rượu Lệnh Hồ Xung giữa mùa hè nóng bức, Đan Thanh tiên sinh đã nhờ anh mình là Hắc Bạch Tử dùng Hàn băng chưởng hóa nước thành ra nước đá ướp lạnh rượu Bồ Đào Thổ Lỗ Phồn!
Đọc Kim Dung, ta mới biết được những cách uống rượu khác nhau. Đối ẩm là hai người uống, thường là tình nhân hoặc bạn hữu thân thiết. Độc ẩm là uống một mình, trong lòng đang lo nghĩ hoặc tưởng nhớ. Cộng ẩm hay Quần ẩm là một nhóm người cùng uống với nhau. Loạn ẩm là một đám đông cùng uống. Trong Tiếu ngạo giang hồ, đoạn loạn ẩm hay nhất là đoạn bọn tà ma ngoại đạo thết tiệc Lệnh Hồ Xung để lấy lòng Thánh cô Doanh Doanh. Thương nhau, quý nhau, người ta mới tặng rượu. Quần hào Cái bang Trung Quốc, tuy là đi ăn mày, đáng lẽ chỉ xin cơm, thì người ta còn xin cả rượu nữa.
Chén rượu của Kim Dung đã làm cho những nhân vật của ông nổi tiếng. Hồng Thất Công nổi tiếng chuyên uống rượu với thịt chó. Kiều Phong nhờ rượu mới phát huy được thần oai, càng uống càng mạnh, càng tỉnh táo. Hư Trúc nhờ uống rượu phá giới mà tìm ra được cô vợ sắc nước hương trời: công chúa Văn Nghi của nước Tây Hạ. Thạch Phá Thiên nhờ uống hai thứ rượu độc mà hóa giải được sự xung đột của âm dương nhị khí, đạt đến mức thượng thừa trong võ học… ở chừng mực nào đó, Kim Dung đã nghĩ đến câu cổ thi:
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh
(Xưa nay thánh hiền đều lặng lẽ
Chỉ người uống rượu mới còn danh)
_Lý Bạch_
Với một chữ Rượu, Kim Dung đã vượt xa hơn bất kỳ nhà văn nào khác. Rượu của ông có bài bản, có tính chất triết lý tề chỉnh. Nó góp phần làm nên cái đẹp cho đời sống con người. Men rượu kết hợp với men tình, men võ khiến ta không “uống” được tác phẩm mà lòng vẫn say.

Monday, April 9, 2012

Quy Nhơn Thành Phố Tôi ...

Con đường chạy lên mộ Hàn Mặc Tử


Đã vào thu nhưng trên đường phố Qui Nhơn vẫn còn rơi rớt một vài sắc đỏ của hoa phượng.



Gần 1.000 năm đã trôi qua, nhưng giữa lòng thành phố vẫn sừng sững một tháp Đôi của người Chăm xưa để lại


Vẻ đẹp hoang sơ của biển


Từ bãi tắm hoàng hậu nhìn về thành phố thân yêu.



Quy Nhơn một bên dựa vào núi. Xa xa là núi Vũng Chua.


Những sắc vàng như cô gái 18 .


Biển quy nhơn liếc mắt đưa tình


Bãi tắm hoàng hậu.


Lên núi ngắm nhìn thành phồ về đêm.Bên trên là trăng rắm...đẹp huyền ảo


Thành phố đang vươn mình.


Biển vẫn ri rao ri rao


Tuyệt nhỉ ,yên bình.


Bánh Hỏi Diêu Trì


Bánh hỏi là đặc sản của Bình Định, thịnh và ngon nhất là ở DiêuTrì (Tuy Phước). Đến Diêu Trì là thấy nhan nhản những món ăn với những tấm quảng cáo "cháo lòng, bánh hỏi", món điểm tâm quyến rũ và phổ biến vì hương vị lạ mà giá lại rẻ.

* Nguồn gốc
Không biết nó có từ lúc nào và tại sao lại mang tên là bánh "hỏi". Theo suy nghĩ của giới cầm bút, vì sợi bánh xoăn xoăn như hình dấu hỏi (?) nên người ta đặt tên theo lối tượng hình. Thật tình cờ, có một lần gặp một cụ già ở địa phương thì cụ ấy cười và bảo rằng: "Đó là suy nghĩ của các ông, chứ bánh hỏi có từ xưa, nó có trước chữ quốc ngữ kia mà". Cụ giải thích thêm - Bánh hỏi là thứ bánh lạ, lúc đầu mới sản xuất ra, ai thấy cũng hỏi là bánh gì? Từ đó, cái tên bánh hỏi được khai sinh. Cùng thời với bánh hỏi có bánh tráng, bánh đúc, bánh ít và bún. Bánh hỏi là biến thể của bún tươi. Nhận thấy sợi bún lớn, ăn không ngon nên người thợ chế biến làm cho sợi bún nhỏ lại mà thành bánh hỏi.

* Cách chế biến

Bánh hỏi và bún có cách chế biến tương tự nhưng bánh hỏi được làm cẩn thận và công phu hơn. Gạo tám thơm được vo kỹ, ngâm nước một đêm. Vớt gạo đem xay nhuyễn bằng cối đá - thứ cối đá Diêu Trì. Bỏ gạo vào họng cối, quay cối, cứ dăm ba vòng lại thêm một ít nước để cối khỏi "nghẹn". Bột nước là một hỗn hợp nước sền sệt. Bột nước cho vào bao vải khô, "đăng" cho ráo nước. Đem hấp bột vừa đủ chín, nhồi và chia bột thành từng khối chừng nửa ký gọi là "giảo" bột đưa vào khuôn ép thành bánh.

Khuôn: là khối ống bằng đồng hay bằng sắt, đường kính chừng bảy, tám phân, chiều cao khối ống chừng hai mươi phân. Phần miệng ống hơi loe để tựa vào bàn gỗ. Đáy ống có một "rá", rá là lá đồng dày chừng vài ly, có nhiều lỗ nhỏ, vừa cỡ kim may luồn qua được. Bí quyết nghề làm bánh hỏi có sự đóng góp của lá đồng này. Lỗ nhỏ quá, bột không qua, lỗ lớn quá sợi bánh sẽ lớn như vậy ăn không ngon.
Ép bánh: Từng khối bột đã giảo, bỏ vào khuôn, rồi dùng một khối gỗ vừa lòng khuôn, ép cho bột chảy ra (giống như hoạt động của piston trong máy nổ). Bột khá đặc, lỗ lại nhỏ nên cần sức ép lớn, nên thợ phải dùng hệ thống đòn bẩy. Sức ép trên mặt khuôn lên đến vài ba trăm ký.
Một người ép một người bắt bánh. Mỗi lần ép đòn bẩy xuống là những vòi bột xoăn xoắn tuôn ra. Người thứ hai đưa tay hứng lấy và ngắt ra từng đoạn chừng 10cm. Đó là bánh thô. Bánh thô còn hấp cách thủy một lần nữa mới tiêu thụ.

Thưởng thức: Bánh làm xong có thể ăn ngay nhưng không ngon lắm vì đó chỉ là tinh bột. Dầu phụng đã khử chín thoa lên miếng bánh để thêm chút vị béo. Nhìn những miếng bánh trắng muốt, ươn ướt mỡ là thấy ngon nhưng chưa đủ. Bánh còn được rắc thêm lá hẹ. Hẹ màu xanh lục điểm trên bánh khiến bánh trở nên hấp dẫn hơn:
Mưa lâm râm ướt dầm lá hẹ

Em thương một người có mẹ không cha

Bánh xèo bánh đúc có hành hoa

Bánh hỏi thiếu hẹ như ma không kèn.

Thật vậy, hẹ chỉ điểm tô cho bánh hỏi, không dùng cho các thứ bánh khác. Hẹ tuy cùng họ với hành, tỏi nhưng lá rất xanh, hương lại nhẹ nên hẹ rất hợp với bánh hỏi. Bánh vừa đẹp lại vừa thơm nhẹ. Phải chăng đó là nghệ thuật?
Nước chấm: Thông thường là nước mắm pha loãng cùng với ớt, tỏi, đường, chanh. Chính thứ nước chấm này làm cho bánh bớt khô ráp giúp dễ nuốt, ăn được nhiều. Đó là cách ăn bình dị nhất

* Nét đặc biệt của bánh hỏi Diêu Trì

Vào một quán bánh hỏi ở Diêu Trì, khi gọi món này là bạn sẽ được thưởng thức thêm hai món nữa, đó là cháo và lòng.

Cháo khá loãng, nấu bằng huyết ninh với thịt nạc băm. Cháo vừa ngọt lại vừa loãng, thơm. Cháo là món đưa "trơn" mà không cần dùng rượu. Cạnh là đĩa lòng heo. Lòng được chế biến rất khéo, có lẽ không nơi nào bằng. Những miếng gan dày, miếng dồi màu nâu, khoanh tròn bên cạnh những miếng tim deo dẻo, miếng cổ dai dai giòn giòn, và cả miếng bầu dục mong mỏng. Những thứ này ăn kèm với bánh hỏi, khiến bánh hỏi trở nên béo bở, ngon ngọt khác thường. Thỉnh thoảng húp một muỗng cháo lòng - Thỏa như "uống rượu mà không say".

Bí quyết của bánh hỏi Diêu Trì là ở đó. Đến các nơi khác cũng được ăn món này nhưng cái ngon không sao bì kịp. Nếu có dịp về Bình Định xin mời bạn thưởng thức món bánh hỏi lòng heo. Hương vị Bình Định như đọng lại nơi đó.

Theo Văn hóa Ẩm thực Bình Định

Bánh Xèo Bình Định

Trong đời sống ẩm thực của người Bình Định có rất nhiều món ăn dân dã nhưng lại làm vừa lòng không ít du khách phương xa khi đặt chân đến miền đất này. Ngoài các loại bánh có nguồn gốc xuất xứ và đang thịnh ở miền đất võ như: bánh ít lá gai, bánh hỏi, bánh tráng dừa…, phải kể đến đặc sản bánh xèo.
Khác với bánh xèo xứ Huế, chất liệu tạo ra bánh xèo Bình Định khá khiêm tốn nhưng hương vị không kém phần đặc trưng, hấp dẫn. Chất liệu chính làm ra bánh xèo chỉ có gạo, tôm, thịt bò, giá sống và một vài loại rau bản địa… Hầu hết các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh đều xuất hiện những hàng quán bán bánh xèo. Danh tiếng nhất trong số các “địa chỉ bánh xèo” phải kể đến thương hiệu bánh xèo Năm Tuấn ở thôn Mỹ Cang, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước (Bình Định). Người tạo ra thương hiệu này là cụ bà Lý Thị Thu, năm nay đã bước qua tuổi 70.

Quán bánh xèo Năm Tuấn cách nội thành Quy Nhơn khoảng 30 km, nằm khiêm tốn bên trục đường tỉnh lộ hướng về Khu Kinh tế Nhơn Hội, di tích lịch sử – văn hóa – danh lam thắng cảnh cấp quốc gia Núi Bà, bãi biển Trung Lương (Phù Cát) nổi tiếng xinh đẹp, nhưng hằng ngày khách đến thưởng thức bánh vẫn tấp nập; cánh nhà báo, nhà đài vẫn hay lui tới “mục sở thị” cách bà Thu chế tác bánh để viết bài, thực hiện phóng sự… Kinh nghiệm gắn bó với nghề suốt 20 năm của bà Thu đã giúp bà tạo ra hương vị bánh “có một không hai”, thưởng thức một lần sẽ nhớ mãi.


Mỗi ngày bà Thu chỉ sử dụng 1 ký gạo, 2 ký tôm, một ít rau sống, giá tươi để làm bánh phục vụ khách. Điều đặc biệt tại quán bánh xèo Năm Tuấn là thời gian mở quán tiếp khách luôn cố định từ 7 giờ sáng và dù nhu cầu của khách luôn tăng cao nhưng lượng nguyên liệu để làm bánh vẫn không bao giờ thay đổi. Để thưởng thức được bánh xèo Năm Tuấn, khách phải tranh thủ đi đúng giờ để “chớp” thời cơ thưởng thức, bởi đi muộn, bánh mà quán làm ra sẽ bán hết.
Dù khách “xịn” đi bằng ô tô hay những cư dân quanh vùng, mỗi khi vào quán Năm Tuấn đều phải ngồi đợi trong một gian nhà mái tranh vách đất cổ xưa. Bao nhiêu năm qua, “cơ ngơi” của bà Thu vẫn chưa có dấu hiệu gì thay đổi. Mỗi sớm, bà Thu rảo một vòng chợ quê, gặp những mối hàng để lấy nguyên liệu về làm bánh. Giá mỗi cái bánh 6.000 đồng, nhưng bà Thu luôn tinh ý chọn những nguyên liệu làm bánh hảo hạng nhất và không hề thay đổi nó. Gạo phải được xay từ loại lúa ở cánh đồng khu Đông. Tôm phải là loại tôm đất sống nước lợ ở đầm Thị Nại. Nước chấm phải được pha chế từ loại nước mắm nguyên chất…

Sau 3 phút hun nóng trên khuôn bánh bằng than hồng, bánh xèo Năm Tuấn tỏa vị hương thơm lựng. Chiếc bánh được tán mỏng, nổi rõ những con tôm đất tròn mẩy hươm vàng. Thưởng thức bánh giữa khung cảnh làng quê dung dị, yên bình, lòng chợt thấy thảnh thơi lạ kỳ…

Võ Đường Bình Định

1. Võ đường Phan Thọ do võ sư Phan Thọ làm chủ môn phái, ông sinh năm 1928, quê quán thôn 4, xã Bình Nghi, huyện Tây Sơn.

Phan Thọ học võ từ năm 18 tuổi, bái sư cụ Cai Bảy (chính danh Nguyễn An, con cả của cố lão sư Hương mục Ngạc nổi tiếng thời Pháp thuộc). Năm 24 tuổi, sau khi đã tinh thông những bài bản cao thâm của thầy Cai Bảy, dù đã lập gia đình và có đứa con trai đầu lòng, ông vẫn quyết bán đôi bò cày, một tài sản lớn lúc bấy giờ để lấy tiền chuyên tâm tầm sư học đạo. Khi ở làng võ An Vinh thì học thầy Sáu Hà, rồi qua làng võ An Thái học cụ Tàu Sáu (Diệp Trường Phát), lên làng võ Thuận Truyền học sư Hồ Ngạnh. Cứ như vậy ông học hỏi và luyện tập võ thuật suốt 20 năm ròng. Nhờ kiên tâm khổ luyện, Phan Thọ là một trong những võ sư hiếm hoi hiện nay tinh thông thập bát ban binh khí, biểu diễn rất bài bản, tuyệt chiêu một số bài quyền, roi: Quyền pháp Ngọc Trản, Tiên Ông, Thần Đồng, Bát Quái, Ngũ Hành, Lão Mai; đao pháp Siêu xung thiên, côn pháp Bát quái… Ngoài ra, ông còn áp dụng thông thạo các loại binh khí hiếm gặp, chỉ lưu truyền ở lòng dân bản địa mà dân gian gọi là võ thế, võ vườn như võ đòn sóc (đòn gánh hai đầu nhọn), võ bồ cào (chỉa ba mũi nhọn)…

Theo các võ sư ở Bình Định, Phan Thọ là lão võ sư có bộ tay biểu diễn võ thuật hay nhất trong giới võ sư võ cổ truyền Bình Định hiện nay. Mỗi khi võ sư Phan Thọ đi quyền, người ta thấy được cái thực và chính là cốt lõi võ học lộ ra trong những đường chuyển động bao hàm sự cao siêu lẫn giản dị như những lẽ phải trong cuộc sống đời thường. Võ đường Phan Thọ hiện có khá đông môn sinh đang sinh sống, lập nghiệp trong và ngoài tỉnh.

Lão Võ sư Phan Thọ biểu diễn song chùy.

2. Võ đường Hồ Ngạnh do võ sư Hồ Sừng làm chủ môn phái, ông sinh năm 1938, quê quán thôn Hòa Mỹ (từ làng võ Thuận Truyền tách ra), xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn.

Nếu tính từ đời cố lão sư danh tiếng Hồ Ngạnh (tên thực là Hồ Nhu) đến đời võ sư Hồ Sừng và lớp con cháu hiện nay thì võ đường họ Hồ ở đất Thuận Truyền đã có 5 thế hệ chung tay phát huy sự nghiệp võ nghệ của tiên tổ. Đây là một trong những võ đường có truyền thống lâu đời và có nhiều đóng góp cho võ cổ truyền Bình Định nói riêng võ cổ truyền Việt Nam nói chung.

Kể chuyện làng võ Thuận Truyền không thể không nhắc đến huyền thoại Hồ Nhu. Ngôi nhà võ đường họ Hồ hiện nay cũng chính là nơi xưa kia cố lão sư Hồ Nhu sinh sống và tập võ, truyền võ. Võ đường Hồ Ngạnh hay làng võ Thuận Truyền này được nhắc đến nhiều bởi môn roi. Các bài roi Thất bộ, Thái Sơn, Bát quái, Tứ môn, Ngũ môn, Trực chỉ, Tấn nhất, Tiên ông… rồi ngay cả Lạc côn - bài roi của cố lão sư Hồ Nhu (ông nội võ sư Hồ Sừng) vốn được xem là di sản văn hóa phi vật thể quý hiếm của làng võ cổ truyền Thuận Truyền cũng là tài sản vô giá của võ cổ truyền Bình Định. Đường roi Thuận Truyền cũng như võ đường Hồ Ngạnh đã được lan tỏa, phát huy mọi nơi trong các làng võ cổ truyền ở Bình Định và một số tỉnh, thành trong cả nước.

Võ sư Hồ Sừng.

3. Võ đường Lý Tường do võ sư Lý Xuân Hỷ làm chủ môn phái, ông sinh năm 1940, quê quán thôn Phương Danh, thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn. Một võ đường có truyền thống lâu đời và nổi danh trong các làng võ Bình Định.

Du khách ở đâu tìm đến gặp võ sư Lý Xuân Hỷ đều được ông mời ra sân tập để nói chuyện. Lúc cao hứng, ông bảo khách ráp thế, bắt một vài đòn đánh cho vui. Với lối nói chuyện dí dỏm “rặt chất nẫu” và dụng nghệ thuật biểu diễn võ để mạn đàm của ông đem lại thú vị và ngạc nhiên cho du khách.

Năm 18 tuổi ông đã tinh thông quyền cước và những đòn roi sở trường của võ cổ truyền Bình Định, người thầy truyền lại là cố lão sư Lý Tường, cha của Lý Xuân Hỷ.

Mãi đến năm 1990, bài quyền Miêu tẩy diện do ông thể hiện mới có dịp trình ra thế giới. Lần ấy, ông cùng Liên đoàn Võ thuật Việt Nam sang Nga thi đấu. Đối thủ của ông là một võ sư người Ba Lan cao lớn, vượt hạng cân ông gần 10 kg. Đến giờ thượng đài, thấy ông đứng yên chẳng thủ thế gì, võ sư Ba Lan ngạc nhiên hỏi sao không chuẩn bị. Ông trả lời “Võ cổ truyền Việt Nam là vậy, đứng chơi chơi đã là thủ rồi”. Nghe xong, đối phương điên tiết xông vào. Võ sư dụng thế nghiêng nghểnh mặt mèo rồi đảo tay đưa đòn chỏ một phát đối phương đã ngã xụi lơ. Trong khi quan khách còn đang ngỡ ngàng, đối phương lồm cồm bò dậy. Bất ngờ anh ta quỳ sụp xuống bái Lý Xuân Hỷ làm sư phụ. Võ sư Lý Xuân Hỷ có thế đòn chỏ khá tuyệt chiêu, các võ sư nổi danh ở những làng võ cổ truyền Bình Định ai ai cũng thán phục. Võ đường Lý Tường là một trong những lò võ cổ truyền có khá nhiều môn sinh đạt giải cao trong các kỳ liên hoan, đại hội, so găng tranh tài.

Võ sư Lý Xuân Hỷ.

4. Võ đường Lê Xuân Cảnh do võ sư Lê Xuân Cảnh làm chủ môn phái, ông sinh năm 1938, quê quán thôn Cẩm Văn, xã Nhơn Hưng, huyện An Nhơn.

Ông học võ từ năm 15 tuổi, với người thầy đầu tiên là cố lão sư Lý Tường. Sau hơn một năm thọ giáo nhà họ Lý, Lê Xuân Cảnh quyết định lên đường học hỏi thêm, rong ruổi tầm sư học đạo. Ông đã tìm đến xin làm đệ tử thầy Phạm Thế Giáo ở An Nhơn, rồi thầy Bửu Thắng ở Tuy Phước.

Sau thời gian dài rong ruổi học võ, Lê Xuân Cảnh trở về sinh sống tại quê nhà. Vốn tính tình hiền hòa, trầm lắng, không thích khoa trương, nên ông ít khi tham gia thi đấu võ đài hoặc so tài võ nghệ với các võ sư, võ sĩ. Thực ra, Lê Xuân Cảnh đã có vài lần so tài với một số võ sư nổi danh đương thời trong những trường hợp do đối phương thách đấu. Võ sư đã dụng nhiều thế roi làm cho đối phương bái phục.

Sau 1975, ông mở võ đường tại quê nhà. Từ những gì đã tiếp thu được trong 15 năm lặn lội tầm sư học võ, Lê Xuân Cảnh chắt lọc những điểm tinh túy nhất của từng môn phái rồi hình thành bí quyết của mình để rồi truyền dạy cho các môn sinh. Rất nhiều võ sinh của võ đường Lê Xuân Cảnh có khả năng biểu diễn các bài võ binh khí khá tuyệt chiêu như Song đao, Song phủ, Độc kiếm, Song kích…và đặc biệt là sở trường về roi với các bài roi Thái Sơn, Trực chỉ, Bát quái… Ngay trong lứa học trò đầu tiên của ông - võ sinh Bảo Thương, cô học trò của Lê Xuân Cảnh khi được cử đi tham gia Liên hoan Quốc tế võ thuật tại Nga, đã xuất sắc giành Huy chương Vàng với bài roi Bát quái.

Thời gian gần đây, Lê Xuân Cảnh đã phục dựng và đào tạo đội võ sinh biểu diễn thi đấu cờ người rất độc đáo ở An Nhơn nhằm phục vụ các dịp hội lễ và đào tạo các đội múa lân thể hiện võ thuật trong biểu diễn khá đặc sắc.

Võ sư Lê Xuân Cảnh.

5. Võ đường Phi Long Vịnh do võ sư Phi Long Vịnh (Trương Văn Vịnh) làm chủ môn phái, ông sinh năm 1935, quê quán thôn Kỳ Sơn, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước.

Võ đường Phi Long Vịnh, gia truyền từ đời ông cố của võ sư Phi Long Vịnh tạo dựng. Cha của ông là lão sư Trương Văn Cẩn, năm nay 96 tuổi.

Phi Long Vịnh học võ lúc 9 tuổi, do ông nội truyền lại, rồi từ người cha là Trương Cẩn, từ bác ruột Trương Ninh, sau đó thọ giáo thầy Trương Hoàng (Ba Chăm), thầy Trương Xuân Ba (Sáu Hòa). Năm 18 tuổi, Phi Long Vịnh bắt đầu thượng đài và cả thời trai trẻ của ông gắn liền với những trận so găng khắp Trung, Nam Việt Nam.

Bài quyền Ngọc trản hiện được lưu truyền và phổ biến rộng rãi ở Bình Định cũng như ở Việt Nam trong các làng võ cổ truyền với luyện tập công phu, tấn công toàn diện, kết hợp cương nhu, có những thế né tránh, phản đòn lợi hại; khi di chuyển thì linh hoạt, nhẹ nhàng; khi ra đòn thì nhanh và mạnh. Người biểu diễn bài quyền Ngọc trản có thần nhất hiện nay là võ sư Phi Long Vịnh. Võ sư Vịnh có thể biểu diễn bài quyền này chỉ trong phạm vi một chiếc chiếu (rộng 1,2m, dài 1,6m). Bài quyền Ngọc trản đã được võ sư biểu diễn ở Châu Âu trước bạn bè quốc tế trong dịp khai mạc trọng thể Quán khí đạo quốc tế 2007 tại Ý và đã được Ban tổ chức Quán khí đạo quốc tế tặng Bằng danh dự Đại danh sư Phi Long Vịnh.

Võ sư Phi Long Vịnh.

6. Cơ sở võ cổ truyền chùa Long Phước do võ sư Thích Hạnh Hòa làm chủ môn phái, ông sinh năm 1954, là Thượng tọa trú trì chùa Long Phước tại thôn Tân Thuận, xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước.

Võ sư Thích Hạnh Hòa khẳng định mạch võ cổ truyền Bình Định vô cùng đa dạng và phong phú và chùa Long Phước đang lưu giữ tinh hoa một phái võ của mạch võ cổ truyền Bình Định.

Tháng 10.1988 một sự kiện đã diễn ra ngay tại sân chùa Long Phước - đó là giải võ cổ truyền của Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Nghĩa Bình (nay là tỉnh Bình Định và tỉnh Quảng Ngãi). Lúc đó thời tiết mưa bão, nước ngập đường vậy mà hầu như các đoàn võ cổ truyền về dự đều có mặt tại điểm hẹn. Đây cũng là lần đầu tiên các phái võ cổ truyền tỉnh Nghĩa Bình lúc bấy giờ cùng nhau so tài, biều diễn với nhau trên cùng một võ đài tại chùa. Những tiết mục roi, thương, đao, kiếm; những tên bài quyền, bài roi lạ tai và uy lực do các võ sinh trẻ tuổi từ cơ sở võ cổ truyền chùa Long Phước biểu diễn đã tạo ấn tượng khó quên trong tâm trí người xem.

Võ sư - Thượng tọa Thích Hạnh Hòa đã truyền dạy rất nhiều võ sinh, và phái võ chùa Long Phước được xem là một trong những võ đường có nhiều nét bí truyền độc đáo. Những bài võ tiêu biểu của cơ sở chùa Long Phước như bài roi: Xích kiếm ô long tiên, Hoa tiên, Tây quy kinh môn tiên, Lăng tiên…; các bài thương như: Lang kinh kim thương, Thiết đinh kim thương, Hồng môn thương…; các bài kiếm như: Sa vân kiếm pháp, Đăng vân sát kiếm…

Phái võ cổ truyền chùa Long Phước từ lâu là niềm tự hào của miền đất võ Bình Định, mạch võ từ ngôi chùa này đã làm phong phú thêm và tiếng vang xa của miền đất võ Bình Định, Việt Nam.

Bình Định Mộng Mơ

Biển, cồn cát, rừng núi, ao hồ tạo cho Bình Định tiềm năng trở thành một thiên đường du lịch trong tương lai không xa.

Cồn cát trắng.

Bãi đá bên biển.

Hoang sơ.

Bãi cát trắng trải dài.

Cảnh đẹp như tranh vẽ.

Vắng lặng.



Bãi tắm ở Quy Nhơn.

Một eo biển ở Bình Định.

Hầm Hô.

Sông nước mênh mông.

Một góc Quy Nhơn